Đình Phượng Cách
Giới thiệu
Đình Phượng
Cách thuộc thôn Phượng Cách 1, xã Quốc Oai, thành phố Hà nội. Đình cách trung
tâm thành phố Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây, đi theo trục đại lộ Thăng Long rẽ
phải, chạy dọc theo đường đê khoảng 1km là tới di tích đình Phượng Cách. Đình nằm
ở phía Tây của làng, gần các trục giao thông chính trong thôn.
Đình là một công trình kiến trúc cổ kính, nơi thờ Đức Thành Hoàng Lý Phục Man – một danh tướng có công giúp vua Lý Nam Đế đánh thắng giặc Lương, dựng nên nhà nước Vạn Xuân hồi thế kỷ thứ VI.
Tương
truyền lúc còn nhỏ tuổi, Lý Phục Man đã có tài hơn người, cưỡi voi bắn tên trường
năng rất giỏi. Mến mộ tài năng của Ngài, vua Lý Nam Đế đã phong cho Ngài chức Đạị
tướng quân và giao trấn giữ một vùng từ Đỗ Động đến Đường Lâm (tức khu vực
Thanh Oai đến Ba Vì ngày nay). Vào mùa xuân năm 543, giặc Lương ồ ạt sang xâm
lược, cướp phá vùng Cửu Đức ( Nghệ An ngày nay). Phụng mệnh nhà vua, Ngài đã
cùng các tướng sỹ đến vùng Cửu Đức, đánh tan quân giặc chỉ bằng mấy mũi tên,
quân giặc hoảng sợ bỏ chạy về nước. Nhà Vua khen ngợi Ngài là bậc hào kiệt ở
vùng Sơn Tây, phong tướng quân, đặt tên cho là Phục Man, họ là Lý và gả công
chúa cho rồi thăng chức là Thiếu úy Tham Nghị. Chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước
ta, vào đầu năm 545 giặc Lương lại kéo quân sang xâm lược nước ta lần thứ 2.
Trong một đêm mưa gió, Ngài đã chỉ huy trận đánh và anh dũng hi sinh giữa trận
tiền. Cảm kích công ơn của Ngài, người dân Phượng Cách đã tôn thờ làm đức
Thành hoàng làng, trải qua các triều đại phong kiến đã được nhiều đạo sắc phong
vua ban.
Đình Phượng Cách là một công trình cổ có từ lâu đời. Từ ngoài vào là hồ đình, được kè đá bốn bề vuông vức. So với các hồ đình khác, hồ này khá rộng. Đứng ở phía Tây nhìn vào đình sẽ thấy hệ thống cột trụ tường bao, bình phong… lung linh in bóng xuống mặt nước.
Qua hệ
thống cột trụ, tường bao, cổng pháo là đến sân đình. Sân đình rộng, lát gạch
bát, hai bên có 2 dãy tả hữu mạc. Nổi bật giữa sân đình là hai cột đá (thạch trụ)
cao 4,4m, bề rộng phía chân trụ tới 0,70m. Đây là những cột đá được dựng vào
năm Cảnh Hưng tứ niên (1745). Đá lấy ở núi Lân Sơn, cách di tích gần 2000m, được
chế tác rất công phu để tạo được đá liền khối, thêm vào đó là quá trình xẻ
vuông vức, đục chạm mộng ghép phần đầu và chân kiểu mộng gỗ, rồi chạm nổi những
đôi câu đối kỳ công, còn một mặt khắc
bài minh văn về việc tạo tác cột đá này. Theo lời những bậc cao niên ở đây thì
tất cả những việc đó đều do người làng Phượng Cách tự làm. Phía hai đầu sân là
hai dãy Tả mạc, Hữu mạc, khép kín khuôn viên của đình.
Qua sân
đình là toà Đại bái, dài 22m, rộng 7,6m, được chia làm 5 gian. Trước cửa Đại
bái có 2 bệ đá xanh khắc hoạ đầu cá sấu và “Vân hoá long” với đường nét tinh xảo.
Toà Đại bái có kết cấu kiểu bốn hàng chân gỗ với vì kèo chồng rường. Trên các đầu
dư, xà, kẻ, chạm nhiều đề tài trang trí như rồng, phượng, hoa lá. Toà Đại bái
cách hậu cung một sân lọng nhỏ. Chính giữa sân lọng cũng có 4 cột đá xanh cao
2,29m.
Toà hậu
cung Đình Phượng Cách là công trình kiến trúc điêu khắc to lớn và cổ kính, có
niên đại sớm nhất vùng này, được tạo dựng vào năm “Bính Tuất Vĩnh thịnh nhị
niên” (năm 1706). Đây là một toà hậu cung rộng lớn được chia thành 5 gian, được
kết cấu bởi 4 hàng chân gỗ với bộ vì nóc kiểu “giá chiêng, kẻ bẩy”, một đặc
trưng kiến trúc thế kỷ XVII - XVIII mà ngày nay còn lại không nhiều. Trên thượng
lương nhà Hậu cung có dòng lạc khoản tạo dựng đình vào năm Vĩnh Thịnh thứ 2
(1760). Tuy nhà Hậu cung đã được sửa chữa nhiều lần, song vẫn giữ được nguyên vẻ
ban đầu tạo dựng của nó là đầu thế kỷ XVIII.
Hiện tại, hậu cung đình Phượng Cách còn lưu giữ được khối lượng di vật lớn, đặc biệt 9 đạo sắc phong từ thời Lê đến thời Nguyễn. Gian chính giữa bên trong có khám thờ sơn son, trong khám bài trí long ngai bài vị thờ tướng quân Lý Phục Man và hai vị phu nhân. Bên ngoài là các đồ tế tự, hai hàng gươm trường bát bửu, đồ gốm sứ, hai ngựa gỗ, ba cỗ kiệu bát cống cùng nhiều hoành phi, câu đối…
Hội làng Phượng Cách được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, hội lớn được tổ chức 5 năm một lần. Lễ hội là dịp để dân làng tổ chức ăn mừng mùa vụ, cúng tế Thành hoàng làng tưởng nhớ công ơn của Ngài và cầu sức khỏe, cầu phước, làm ăn buôn bán thuận lợi.



