Lễ hội đình làng Bùi Xá, thôn Bùi Xá, xã Xuân Mai, thành phố Hà Nội.
Giới thiệu
Đình
Bùi Xá được xây dựng từ thế kỷ XIX là nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh (Đức thánh Tản
Viên Sơn ) là vị đứng đầu trong bốn vị thánh trong truyền thuyết của người Việt
(Tứ bất tử) đã được lưu truyền sử sách. Đình Bùi Xá được UBND tỉnh Hà Tây (nay
sáp nhập về thành phố Hà Nội) xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh, thành phố theo
Quyết định số 1516/QĐ-UBND ngày 23 tháng 10 năm 2005, là nơi sinh hoạt văn hóa,
tín ngưỡng của nhân dân tổ dân phố Bùi Xá và khách thập phương trong và ngoài
xã Xuân Mai.
Tản Viên Sơn Thánh, còn gọi là Sơn Tinh, là một nhân vật
trong truyền thuyết Việt Nam- vị thần cai quản dãy núi Ba Vì (tức núi Tản
Viên). Ông được xem là hàng đệ nhất trong bốn vị thánh bất tử của tín ngưỡng
dân gian người Việt, gọi là Tứ bất tử (Tản Viên, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng,
Thánh mẫu Liễu Hạnh). Các sự tích, truyền thuyết về Đức thánh Tản, đặc biệt là
truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, trở nên nổi tiếng hơn bao giờ hết trong tâm
thức người Việt hiện đại. Những truyền thuyết khiến ông trở thành một biểu tượng
văn hóa, biểu đạt cho những khả năng to lớn và vĩnh viễn của cộng đồng trong
lao động sáng tạo ra nguồn của cải vô tận và trong chiến đấu chống thiên tai
(lũ lụt) để bảo vệ cuộc sống chung. Thánh Tản Viên là người có thực, tên Nguyễn
Tuấn vốn là một nông dân dũng cảm, nhân hậu, thiên phú hùng tài. Sau trở thành
Sơn thần, Sơn Tinh- thủ lĩnh của muôn loài, thường dạy dân làm ruộng, săn bắn, kéo vó, luyện võ và mở hội. Từ đây, ông trở thành
người cứu độ nhân dân có phép thần thông biến hóa, có văn võ song toàn và trở
thành vị thần núi Tản Viên. Trong cuộc đo tài với Thủy Tinh, vị ác thần cai quản
các loài thủy tộc thường dâng nước tràn lên cướp phá mùa màng, cầm thú, làm hại
dân lành, Sơn Tinh thắng và được Vua Hùng gả con gái- công chúa Ngọc Hoa. Thủy
Tinh thua, đem hận dâng nước lũ và xua thủy quái đánh phá. Sơn Tinh cùng thần
dân và các loài vật trên đất liền chống chọi quyết liệt, nước càng dâng thì núi
lại càng cao. Sơn Tinh thắng trận, biểu tượng cho tinh thần chiến thắng thiên
tai lũ lụt của dân tộc, tinh thần cái thiện chiến thắng cái ác.
* Những kiêng kỵ trong lễ hội: chủ tế: nếu
gia đình có tang tứ thân phụ mẫu thì phải đợi mãn tang mới tiếp tục làm. Người được dân làng cử ra làm Chủ tế thì phải
có lễ vật là mâm xôi, thủ lợn ra trình Thánh. Nếu nghỉ cũng phải ra xin Thánh
cho thoái vị. Từ trước đến nay, những người làm lãnh đạo ở địa phương khi nhậm
chức cũng phải ra trình Thánh. Lễ vật thường đơn giản, tùy tâm (quả cau, gói
bánh). Nếu không giữ chức nữa thì cũng phải làm lễ để báo với nhà Thánh.
* Trước lễ hội: Chính quyền địa phương tổ chức họp Hội
nghị liên tịch, gồm có Bí thư, Trưởng thôn, trưởng các ban ngành
đoàn thể. Sau đó, thành lập Ban chỉ đạo lễ hội, phân công nhiệm vụ cho từng
thành viên trong Ban chỉ đạo. Cuộc họp diễn ra tại đình làng hoặc nhà văn hóa
thôn.
* Ngày 13 tháng Giêng âm lịch:
- Buổi sáng: Các
cụ ông cao tuổi trong làng ra đình làm lễ để bao sái đồ thờ, lắp rửa kiệu. Các
cụ lau qua 3 lượt nước, đầu tiên là nước giếng sạch, sau đó lau bằng nước gừng
rồi lau lại bằng rượu. Sau đó, cụ từ và một số cụ uy tín trong làng mặc y phục
cho Thành hoàng làng. Các cụ bà ra quét dọn đình.
- Buổi chiều:
các cụ ông tổ chức lễ tế yết tại đình, để trình báo với Thành hoàng ngày hôm
sau tổ chức lễ hội.
* Ngày 14 tháng Giêng âm lịch: Hội tổ chức trong buổi sáng.
Lễ rước kiệu.
Đoàn rước bắt đầu xuất phát từ đình làng. Trước khi đi, đội rước kiệu phải cho
kiệu bát cống quay 3 vòng trước cửa đình. Đoàn rước đi đầu là kiệu hoa rước ảnh
Bác Hồ, tiếp đó là rước bát bửu, sau đó là kiệu bát cống. Kiệu bát cống rước
bành, cùng với lễ vật là hoa quả. Đoàn rước gồm 16 người, đi từ đình làng xuống
sông Bùi, đi thuyền dọc sông Bùi, đến đền Né. Sau đó rước kiệu từ Đền Né về
đình. Mọi người ở lại đình thụ lộc và dự tiệc.
* Chiều ngày 14 tháng Giêng âm lịch: Các cụ làm lễ tạ và kết thúc lễ hội.



