Lễ hội đình Phương Khê
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
- Thuận tiện di chuyển bằng taxi hoặc xe buýt.
Nội dung bài viết
Câu chuyện điểm đến
01Lễ hội đình Phương Khê
Lễ hội đình Phương Khê, phường Chương Mỹ
- Lễ hội diễn ra từ ngày 09-11 tháng Giêng Âm lịch
Theo quy ước của làng Sơn Đồng thì hàng năm đều tổ chức lễ hội ( tế lễ) và diễn ra trong 02 ngày từ ngày 09-10 tháng Giêng Âm lịch hàng năm.
* Những kiêng kỵ trong lễ hội: chủ tế: nếu gia đình có tang tứ thân phụ mẫu thì phải đợi mãn tang mới tiếp tục làm; chủ tế thường được lựa chọn rất kỹ trong làng.
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan:
Lễ hội đình Phương Khê thôn Sơn Đồng tổ chức để tưởng nhớ công đức của Ngài Đức thánh Đức Đông phương là một trong năm vị thần của Việt Nam.
* Trước ngày diễn ra lễ hội:
Ban lãnh đạo thôn tổ chức họp Hội nghị liên tịch gồm có Bí thư, trưởng thôn, trưởng các ngành đoàn thể. Sau đó thành lập Ban tổ chức và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong Ban tổ chức. Cuộc họp diễn ra tai đình làng hoặc nhà văn hóa thôn.
02* Ngày 09 tháng Giêng Âm lịch
Các cụ ông cao tuổi trong làng ra đình làm lễ để bao sái đồ thờ, lắp rửa kiệu. Các cụ lau qua 3 lượt nước, đầu tiên là nước giếng sạch, sau đó lau bằng nước gừng rồi lau lại bằng rượu. Sau đó, cụ từ và một số cụ uy tín trong làng mặc y phục cho Thành hoàng làng. Các cụ bà ra quét dọn đình
03* Ngày 10 tháng Giêng
Sáng tổ chức tế, lễ dâng hương gồm có 20 người: Ban tế gồm có Chủ tế, Đông xướng, Tây xướng; Chấp sự, Bồi tế; mở bịch (mở rượu); Thụ tôn là người đón rượu dâng lên nhà ngài.
- Các đồ tự khí: 2 cái Đẳng gỗ, đặt hai bên Đông xướng - Tây xướng có lọng che. Đẳng gỗ bên Đông đặt cây đèn, bình hương, bình hoa và Tam sơn đặt 3 đài rượu gọi là bàn Đông bình. Quan viên Đông xướng đứng xướng tế ở đây. Trống hiệu đặt bên dưới bàn Đông bình. Trên cái Đẳng gỗ bên Tây đặt cây đèn hoặc nến, bình hoa, đĩa trầu cau gọi là bàn Tây quả. Quan viên Tây xướng đứng ở đây. Chiêng hiệu đặt bên Tây, trống đặt bên Đông. Hai cây đèn hoặc nến dùng để dẫn khi lên hương, lên rượu.
- Cây quán tẩy: Là cái giá để đựng chậu nước cho Chủ tế, Bồi tế, Chấp sự rửa tay sạch sẽ khi vào hành tế.
- Lỗ bộ (chấp kích, bát bửu): trưng bày hai bên Đông - Tây xướng cho uy nghi.
Bảng chúc: Mộc bảng có dạng hình chữ nhật nằm ngang, đặt đứng nghiêng, trên cái giá đỡ là thân hai con ly đứng hai bên, mặt bảng ngửa về phía sau. Ngày tế lễ, bài văn chúc dán lên bảng chúc. Còn có một miếng vải thêu hình hổ phù che lấy bài văn chúc, khi đọc mở ra, thể hiện sự tôn kính Thần linh. Ngoài ra còn một số đồ dùng khác như: Bốn chiếc chiếu cói mới dùng cho hành lễ, trải thành hàng dọc trước Đình đền. Chủ tế và Bồi tế thực hiện nghi lễ trên đó. Mỗi kỳ tế lại thay mới một lần cho tinh khiết.
- Y phục của các quan viên tế: Thường dùng trong vài hoặc 10 năm thay mới 1 lần cho sang trọng. Chủ tế: Riêng một màu, thường là màu đỏ, có cân đai, bối tử. Các viên Bồi tế: Dùng chung một màu cho mũ áo, thường là màu tím. Các Chấp sự: Dùng chung một màu, thường là màu xanh lam. Tất cả đều đội mũ kiểu phốc đầu, áo tay thụng, quần màu trắng kiểu ống sớ, chân đi hia. Các loại quần áo này dùng xong đóng hòm, quản ở di tích.
- Chiếu tế: Khi vào cuộc tế, trải 4 chiếc chiếu theo hàng dọc trước đình: Chiếu thứ nhất: Gọi là chiếu Nghinh thần dành riêng chỉ khi làm lễ nghinh thần, đọc chúc, vị chủ lễ đứng hiến lễ ở đây. Chiếu thứ 2: Gọi là chiếu Thụ tộ tức là nơi Chủ tế lên hưởng lộc của Thần ban cho (thụ rượu thịt, ăn miếng trầu cau đã tế lễ). Chiếu thứ 3: Gọi là chiếu Phục vị hay chiếu Tế chủ là chiếu giành riêng cho Chủ tế trở về (điểm xuất phát). Chiếu thứ tư: Gọi là chiếu Bồi tế, chiếu giành riêng cho các vị Bồi tế hành lễ (các chiếu này chỉ dùng 1 lần nên đều là đồ mới tinh khiết).
- Âm nhạc dùng trong lễ tế: Âm nhạc tế được dùng theo một quy chế nhất định, có thể thức với thiết chế Lên âm, Xuống nhạc. Lên là khi dâng hương, hiến lễ. Xuống là trở về vị trí khi công việc hoàn thành. Các loại âm nhạc dùng có tính chất lễ nghi, thờ cúng trong việc tế lễ nơi đền miếu đều thuộc phạm trù nhạc lễ.
- Nhạc cụ: Bộ gõ gồm các loại trống, chiêng, Sênh tiền (3 loại). Sênh tiền dùng trong lễ tế (cả lễ rước kiệu) là để điểm nhịp trong hành lễ, múa theo vị Chủ tế hoặc các Chấp sự lên hương, lên rượu. Bộ hơi gồm Kèn và sáo. Nhạc gồm bài Lưu thuỷ dùng khi tiến tước, gọi là Lên âm, bài Ngũ đối dùng khi tiến tước hoàn thành, gọi là Xuống nhạc.
- Đội tế là một nhóm gồm khoảng 20 người. Thông thường Tế thần là đàn ông (gọi là đội Tế ông).
- Đội tế gồm:
+ Chủ tế: Còn gọi là mạnh bái, là người đứng vái lạy Thần - Thành Hoàng. Chủ tế thứ bậc xã hội là hàng mệnh quan, thứ bậc tâm linh là vị con trưởng nhà Thánh. Về nhân thân, Chủ tế là người được dân làng kén chọn kỹ càng nhất trong thành phần ban tế. Thường là bậc cao niên, khoẻ mạnh, vóc dáng phương phi, có chức sắc phẩm hàm, có học vị ngoài xã hội càng quý, gia đình song toàn, đông đúc, thê vinh, tử vượng. Các tiêu chí làng xã đều xếp bậc cao, gia đình có văn hoá.
+ Bồi tế: 2 -4 người, là người đứng, đứng hàng chiếu dưới của Chủ tế giúp Chủ tế và trông theo người Chủ tế mà làm lễ, lễ theo Chủ tế. Thường bầu 2 Bồi tế, tối đa là 4 Bồi tế đều thuộc hàng số chẵn, đứng 2 bên.
+ Nội tán: 2 người phụ Chủ tế. 1 đứng đằng Đông, 1 đứng đằng Tây để dẫn Chủ tế ra, vào chiễu tế khi hành lễ và trợ xướng khi Chủ tế vào chiếu trong (chiếu nghinh Thần) và chuyển chúc.
+ Đông xướng:1 người, đứng ở bàn bên Đông, ngang với chiếu phục vị, làm phận sự xướng tế, điều hành cuộc tế theo nghi thức có trong bài tế đã định sẵn. Bàn có lọng che, Đông xướng đứng dưới lọng. Trên bàn bày đèn hương, bình rượu tế, cái Đẳng rượu, trong đài đựng các chén rượu, nên bàn Đông xướng còn gọi là Đông bình.
+ Tây xướng: Người này đứng ở bàn bên Tây đối xứng với bàn Đông xướng cũng làm phận sự xướng tế, phụ giúp cho người Đông xướng. Bàn có lọng che, Tây xướng đứng dưới lọng. Trên bàn bày cây đèn, đĩa trầu cau nên còn gọi là Tây quả.
+ Chấp sự: Là người giúp việc ở 2 bàn Đông - Tây xướng, chia đứng 2 bên, mỗi bên 3 người, giúp việc dâng hương, dâng rượu.
+ Thủ hiệu: 2 người. Bên trống: Điều hành cuộc tế bằng trống cái. Bên chiêng: đánh chiêng theo lệnh của trống cái.
+ Đọc chúc:1 người thông văn tự vì phải đọc bài văn tế bằng nguyên bản chữ Hán Việt theo âm điệu, có giọng đọc sang sảng vang xa, gây truyền cảm và xúc động.
* Ngày 11 tháng Giêng
Từ sáng sớm các cụ trong làng ra đình mặc xiêm y, tổ chức lễ tạ. Đóng cửa đình, kết thúc lễ hội.
c. Hiện trạng di sản văn hóa phi vật thể:
- Số lượng nghệ nhân hiện có: 21 người
- Số lượng người thực hành: 25 người
- Các nguồn lực khác tham gia bảo vệ: 55 người
- Số lượng bài bản:
- Kỹ năng/kỹ thuật/tập tục:
- Số lượng nghệ nhân hiện còn khả năng truyền dạy: 18
- Số lượng học viên hiện nay: 8
- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, cầm tay chỉ việc
Thông qua lễ hội nhằm ghi nhớ công ơn của các bậc thánh thần và lưu giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp địa phương. Đồng thời lễ hội là dịp hội tụ giữa người dân trong thôn và khách thập phương cũng như người dân xa quê được về đoàn tụ bên gia đình, họ hàng, mang giá trị gắn kết.



