Lễ hội làng Cầu Cả
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Hội làng Cầu Cả là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, được tổ chức vào ngày 11 tháng Giêng hằng năm tại thôn Cầu Cả, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đây không chỉ là dịp sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng địa phương mà còn thể hiện lòng thành kính đối với Đức vua An Dương Vương – vị vua sáng lập nước Âu Lạc vào thế kỷ III trước Công nguyên.
Theo truyền tích dân gian, thôn Cầu Cả xưa có tên là Cầu Kỳ, từng là một trong tám trấn bảo vệ vòng ngoài Thành Cổ Loa, do tướng quân Lý Tâm Viễn trấn giữ. Vị trí địa lý đặc biệt của Cầu Cả nằm cạnh sông Hoàng Giang xưa, nơi có cây cầu bắc qua sông mang tên Tháng Năm (Ngũ Nguyệt Kiều), được cho là nguồn gốc của tên gọi Cầu Cả ngày nay. Trên địa bàn thôn hiện vẫn lưu truyền nhiều địa danh cổ như: Cổng Xứ, Cửa Làng, Ao Dơ (còn gọi là Bãi Đài), Đầu Chùa, Đội Lộc, Đồng Chài, ao Lò Vôi Quan, Tờ Chỉ, Ngũ Nguyệt Kiều, Vườn Áng, Vườn Lạc… Những địa danh này góp phần phản ánh chiều sâu lịch sử và không gian văn hóa đặc trưng của vùng đất nằm trong quần thể di tích Cổ Loa.
Đối với người dân vùng Cổ Loa, câu ca truyền đời: “Chết thì bỏ con bỏ cháu, sống không bỏ mồng 6 tháng Giêng” đã khẳng định vị trí đặc biệt của ngày hội đầu xuân. Ngày mồng 6 tháng Giêng là dịp tưởng nhớ Đức vua An Dương Vương lên ngôi. Vào ngày này, Bát xã tổ chức tế lễ trang trọng tại Đền Thượng Cổ Loa. Đoàn rước và nhân dân thôn Cầu Cả cùng các làng Mạch Tràng, Văn Thượng tập trung tại nghè Ba Chạ (địa danh nay không còn), sau đó rước vào đền Cổ Loa làm lễ. Trong nghi thức truyền thống, làng Cầu Cả đảm nhiệm phần “Phủng chúc” (bưng chúc) – một vai trò mang ý nghĩa trang nghiêm và thể hiện trách nhiệm của làng trong tổng thể lễ hội.
Sau khi kết thúc hội chính tại Cổ Loa, các làng thuộc Bát xã lần lượt mở hội tại đình làng mình theo trình tự đã định, kéo dài đến ngày 16 tháng Giêng. Lễ hội làng Cầu Cả được tổ chức vào ngày 11 tháng Giêng. Vào ngày mùng Mười tháng Giêng, trước ngày tổ chức hội làng một ngày, dân làng sẽ tổ chức cúng, gọi là cúng khao quân. Đồ lễ được đặt ở giữa sân đình, bao gồm 1 con lợn luộc nguyên con, 1 mâm xôi rượu và 1 thùng nước. Sau khi đọc văn tế khao xong, 10 người trung niên khỏe mạnh mặc áo the khăn xếp đứng 2 bên, khênh lợn lùi về phía sau và đọc to “thắng to”, sau đó ai có nhiệm vụ khênh lợn, khênh xôi và nước thì khênh hết chạy vào trong, người cuối cùng có nhiệm vụ cuốn chiếu chạy vào theo và không được để sót lại cái gì ở sân. Sau đó lợn được chia ra, phát lộc cho mọi người thụ lộc ngay tại đình. Ngày xưa, lợn được giao cho quan đám nuôi trong cả năm. Tiêu chuẩn phải là giống lợn ỉ và có màu đen tuyền, không có lông trắng. Ngày nay giống lợn ỉ thuần chủng đã gần như biến mất do bị lai tạp nhiều, do vậy đến gần ngày hội ban tổ chức sẽ đi mua để phục vụ cho nghi thức tế lễ.
Sáng mùng mười một là chính hội. Sau phần khai mạc là nghi lễ tế và rước. Tại đình, buổi tế gồm khoảng 25 cụ ông trong trang phục nghiêm trang: một chủ tế đọc mật khẩn, một người đọc chúc, hai người giữ đèn, hai người đánh chiêng, trống, một tây tán, một đông tán… Đội tế mặc quần trắng, áo thụng xanh, đội mũ chuồn, đi hài; đội dâng hương quần trắng, áo vàng. Những người khiêng kiệu mặc quần áo quân chầu đỏ, trắng, vàng, đầu thắt dây vàng.
Cùng lúc ấy, khoảng 20 cụ bà, trong bộ quần áo nâu hoặc xanh nhạt, tập trung làm lễ ở chùa Cầu Cả. Theo lệ làng, trong buổi tế chính có cụ ông mà không có cụ bà; đặc biệt, không cho đàn bà và trẻ nhỏ vào trong hậu cung.
Trong khi các cụ tế lễ, thanh niên nam nữ tổ chức các trò chơi dân tộc cổ truyền. Hội làng có vật dân tộc, bóng chuyền hơi, hát quan họ giao duyên; buổi tối có giao lưu văn nghệ.
Hội làng Cầu Cả không chỉ là sự kiện tín ngưỡng dân gian mà còn là không gian cố kết cộng đồng, nơi các thế hệ người dân cùng nhau gìn giữ phong tục, tập quán, nghi lễ cổ truyền. Trong dòng chảy hiện đại, lễ hội vẫn được duy trì với tinh thần tôn nghiêm, trang trọng, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Loa Thành – quê hương của kinh đô xưa trong lịch sử dân tộc



