Lễ hội làng Đông Trù
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Có những mối tình đi vào lịch sử không chỉ bằng chiến công mà bằng cả cách kết thúc của nó: hai người, hai nấm mộ, một lòng trung nghĩa. Chuyện tình Đào Kỳ – Phương Dung ở làng Đông Trù, xã Đông Anh, là một câu chuyện như thế.
Theo tư liệu còn lưu ở văn bia, gác chuông đình làng, tục thờ tướng Đào Kỳ và Phương Dung công chúa đã có từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần.
Chuyện xưa kể: đầu Công nguyên, nước ta chịu ách đô hộ của nhà Hán, dân tình khốn khổ dưới chính sách tham tàn của thái thú Tô Định. Ông bà Đào Minh và Trần Thị Tố từ Nông Cống, Thanh Hóa đến trang Cối Giang, vùng Đông Ngàn, sinh sống, sinh hạ được người con trai đặt tên Kỳ. Đào Kỳ thông minh, giỏi văn lại tinh võ nghệ. Cùng lúc ấy, ở Lương Tài, xứ Kinh Bắc, gia đình ông Nguyễn Trát có cô con gái út tên Phương Dung – xinh đẹp, nết na, giỏi cả văn chương lẫn võ nghệ. Khi Tô Định giết hại cha và ba anh trai nàng vì không mua chuộc được, Phương Dung mang mối thù sâu nặng. Gặp Đào Kỳ, hai người mến nhau vì đức, trọng nhau vì tài, kết duyên vợ chồng, cùng nuôi chí lớn.
Nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, vợ chồng Đào Kỳ đem quân đến Hát Môn yết kiến. Bà Trưng thu nhận, phong Đào Kỳ làm Đại nguyên soái nắm hai đạo quân thủy bộ, Phương Dung làm tham mưu quân lược. Sau khi đánh tan quân Hán, đuổi Tô Định về nước, Trưng Vương lên ngôi, cử Đào Kỳ về trông coi vùng đất Bắc Đuống. Ba năm sau, Mã Viện đem quân xâm lược, vợ chồng ông trở lại chiến trường, lên Lạng Giang ngăn giặc rồi về Cấm Khê ứng cứu vua Trưng. Thế giặc mạnh, quân ta suy yếu, hai vợ chồng lạc nhau giữa trận. Đào Kỳ bị thương nặng, quay ngựa về Cối Giang, qua vùng Cổ Loa thì kiệt sức ngã xuống, mối đùn lên thành mộ. Hôm sau Phương Dung thoát vây, qua đúng gò mộ ấy, hỏi thăm mới biết chồng đã mất, liền rút gươm tuẫn tiết ngay tại chỗ – mối cũng đùn lên thành ngôi mộ sóng đôi.
Người đời sau có thơ ca ngợi khí tiết của ông bà:
“Sống làm tướng giỏi chết làm Thần
Muôn thuở cương thường nặng tấm thân
Đôi nấm thành Loa soi bóng nguyệt
Qua đây, người nói mộ tướng quân.”
Các đời vua sau đó đã sắc phong ông bà làm Thượng đẳng thần, cho dân Cối Giang lập đền thờ phụng. Trong vùng Cói xưa, nhiều làng thờ hai ông bà làm thành hoàng, trong đó có Đông Trù, và cùng giữ chung tục lễ nghênh lăng, về gò mộ ở làng Phúc Thọ.
Hội đình Đông Trù diễn ra vào ngày mùng chín và mùng mười tháng Ba âm lịch, chính hội vào mùng mười. Cứ năm năm, làng lại mở hội chính một lần, năm ấy mới tổ chức rước nghênh lăng – đoàn rước từ đình Đông Trù đến tận lăng Đào Kỳ ở làng Phúc Thọ, xã Đông Anh.
Chiều mùng chín có lễ tế nhập tịch, theo đúng trình tự cổ truyền: nổi trống chiêng, nhạc bát âm, kiểm soát lễ vật, dâng hương, dâng rượu vào cung, đọc mật khẩn rồi tế tất. Sáng mùng mười, từ sáu giờ đã đón các chạ anh về dự hội; nửa giờ sau, đoàn rước nghênh lăng khởi hành. Trước khi đi, chủ tế vào cúng cáo yết xin phép Thánh. Đoàn rước nối dài trong tiếng trống chiêng trầm hùng và nhạc bát âm rộn rã: cờ thần đại, cờ Tổ quốc dẫn đầu, hai mươi lá cờ đi hàng đôi, đội gươm trường bát bửu, hai con ngựa thờ có người kéo, phường nhạc bát âm, đội múa sênh tiền uốn lượn ngay trước kiệu Thánh, rồi đến hương án, kiệu bát cống của Đức Ông có hai lọng che, kiệu Đức Bà có hai quạt che, sau cùng là đội tế nam, đội dâng hương nữ và nhân dân.
Đến lăng tướng quân Đào Kỳ, kiệu được hạ xuống, quân chầu cờ quạt xếp uy nghiêm, chủ tế cùng quan viên làm lễ trước mộ. Xong lễ, đoàn rước kiệu trở về đình để tế hội chính lúc mười giờ, theo đúng trình tự: trống chiêng, kiểm soát lễ vật, rửa tay bằng nước gừng, dâng hương, dâng rượu, đọc chúc văn, hóa chúc văn. Sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian, hát quan họ vào buổi chiều và liên hoan văn nghệ quần chúng vào buổi tối.
Trong năm hội chính, khoảng một trăm thanh niên khỏe mạnh được tuyển để khiêng kiệu và cầm cờ, trong đó ba mươi nam khiêng kiệu Ông, ba mươi nữ khiêng kiệu Bà, hai mươi nữ rước cờ. Việc lưu giữ lễ hội không dựa vào văn bản mà truyền miệng qua nhiều thế hệ; đội tế và đội dâng hương mỗi năm lại có thêm người mới, được người đi trước chỉ dạy qua các buổi tập và qua chính những lần chứng kiến nghi lễ.
So với xưa, quy mô người tham dự đã mở rộng hơn nhiều: không chỉ người trong làng mà cả các vùng lân cận. Trước đây làng mở hội nhiều ngày, nay vì điều kiện kinh tế chỉ còn tổ chức chính trong một ngày. Với người Đông Trù, lễ hội là dịp tưởng nhớ vị thần của làng mình, để hiểu hơn đạo lý uống nước nhớ nguồn, đồng thời là dịp gặp gỡ, thắt chặt tình đoàn kết giữa các thế hệ.



