Lễ hội làng Hội Phụ
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Không nhiều ngôi đình thờ hai vị vua – tướng của hai thời đại khác nhau như đình Hội Phụ. Nơi đây vừa lưu dấu Triệu Việt Vương – người từng lập căn cứ ở đầm Dạ Trạch chống quân Lương, vừa thờ Đào Kỳ – Phương Dung, đôi vợ chồng tướng quân thời Hai Bà Trưng.
Ở Hội Phụ, mỗi bức đại tự, mỗi câu đối treo trong đình đều mang một câu chuyện của một thời đại xa xôi.
Lễ hội đình Hội Phụ có từ thời Pháp thuộc, khoảng năm Giáp Tý. Đình thờ Triệu Việt Vương – tức Triệu Quang Phục, con Triệu Túc, người huyện Chu Diên – cùng với vợ chồng Đào Kỳ, Phương Dung.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng Triệu Quang Phục uy hùng, sức mạnh, theo Lý Nam Đế đi đánh dẹp, lập công làm Tả tướng quân. Khi Trần Bá Tiên đem quân sang đánh năm 546, 547, Lý Nam Đế không phòng bị nên thất bại, phải lui về động Khuất Lão, giao cho Triệu Quang Phục giữ việc nước, đem quân đánh Bá Tiên. Quân Bá Tiên đông, Quang Phục liệu thế không địch nổi, lui về đầm Dạ Trạch ở huyện Chu Diên – nơi cỏ cây um tùm, bốn bề bùn lầy, chỉ có thể đi bằng thuyền độc mộc theo lối quen mới vào được, nếu không biết đường mà sa xuống nước thì bị rắn cắn chết. Ông thuộc lòng đường lối, đem hai vạn quân vào đóng giữa đầm, ban ngày không để lộ khói lửa, ban đêm đem quân ra đánh, dùng cách đánh du kích kéo dài mà cầm cự với quân Lương. Người trong nước gọi ông là Dạ Trạch Vương. Năm 548, khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương, đóng đô ở Long Biên rồi Vũ Ninh, ở ngôi 23 năm.
Trong truyền thuyết của dân Hội Phụ, đây từng là nơi Triệu Quang Phục đóng đại bản doanh, dấy binh từ Cối Giang. Thần phả còn ghi ông đã tuyển 42 trai tráng vùng này theo đánh giặc; về sau ông cấp ruộng đồng cho dân Hội Phụ, dân xin lập đền thờ sống để tỏ lòng tôn kính. Đình làng nay vẫn còn bức đại tự “Triệu Việt Vương từ”, “Đế Vương sự nghiệp” cùng những câu đối ca ngợi công lao ông trong cuộc kháng chiến chống quân Lương.
Cùng thờ tại đình Hội Phụ là vợ chồng tướng quân Đào Kỳ và Phương Dung – câu chuyện tình nghĩa từng gắn liền với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khi hai ông bà đem quân đến yết kiến, được phong tước, xông pha trận mạc rồi hy sinh gần vùng Cổ Loa, mộ hai người đùn lên sóng đôi vào ngày 16 tháng 7 âm lịch. Các đời vua sau đã sắc phong ông bà làm Thượng đẳng thần; hằng năm vào các ngày sinh, ngày hóa, dân làng vùng Cói – trong đó có Hội Phụ – đều tổ chức tế lễ, mở hội tưởng nhớ.
Lễ thờ cúng chính diễn ra vào ngày 15 tháng Ba âm lịch. Những năm hội chính, lễ hội kéo dài từ 13 đến 15; năm hội lệ thì từ 14 đến 15. Ngày 13, buổi sáng bao sái đồ thờ, vệ sinh khu di tích; buổi chiều viếng nghĩa trang liệt sĩ. Ngày 14, bảy giờ sáng tổ chức rước nghênh lăng từ đình tới khu lăng mộ tướng Đào Kỳ ở làng Phúc Thọ. Đoàn rước có cờ thần đại, cờ Tổ quốc dẫn đầu, bốn mươi lá cờ đi hàng đôi, đội gươm trường bát bửu, trống chiêng, phường nhạc bát âm, hương án, kiệu bát cống, đội tế nam, đội dâng hương nữ và nhân dân. Đến lăng, quan viên làm lễ, dân chúng lần lượt vào thắp hương, rồi đoàn rước kiệu trở về đình hành lễ. Buổi chiều tổ chức bóng chuyền hơi, cờ tướng, thể dục dưỡng sinh.
Ngày 15 – chính hội – bảy giờ sáng đón hai anh cả Phúc Xá, Đông Ngàn và các đoàn đại biểu; bảy giờ rưỡi tế hội chính với đội tế nam theo trình tự truyền thống: nổi trống chiêng, kiểm soát lễ vật, rửa tay bằng nước gừng, dâng hương, dâng rượu, đọc chúc, hóa chúc, lễ tất; các cụ bà dâng hương với những động tác đơn giản hơn ngay tại sân đình. Tám giờ rưỡi khai mạc lễ hội, mười một giờ rưỡi nhân dân thụ lộc. Buổi chiều là các trò chơi, thể thao, hát quan họ, rồi kết thúc hội. Với người Hội Phụ, hội làng là dịp tưởng nhớ những bậc tiền nhân, hiểu thêm đạo lý uống nước nhớ nguồn, đồng thời là dịp để mọi người giao lưu, gắn kết sau những ngày lao động vất vả.



