Lễ hội làng Mạch Tràng
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu

Ít làng nào mang trong tên gọi của mình cả một câu chuyện dựng nước. Mạch Tràng thì có. Theo truyền thuyết, Mạch Tràng là thôn nằm sát phía Nam, bên ngoài thành Cổ Loa, trên khu đất cao ráo cạnh sông Hoàng. Từ thời Âu Lạc, vua An Dương Vương đã đem giống lúa mạch về đây, dạy dân trồng cấy và đặt kho lương thực của Âu Lạc. Sau này, thời Ngô Quyền, thôn lại được chọn mở trường học của quốc gia - nên có tên là Mạch Tràng (Mạch Trường).
Những dấu tích của quá khứ ấy vẫn còn trong đình làng: 9 bộ sắc phong và một ngọc phả thời Nguyễn. Dân gian còn truyền rằng có một số sắc phong từ thời Lê đã bị mất.
Lễ hội làng Mạch Tràng có từ rất lâu, gắn liền với Lễ hội Cổ Loa và cũng để tưởng nhớ Thục Phán An Dương Vương. Từ mùng sáu tháng Giêng, cùng các làng khác trong Bát xã Loa Thành, Mạch Tràng có đội rước kiệu vào đền Thượng làm lễ tế; đoàn rước của làng khoảng 100 người, gồm quân chầu phù giá, đoàn nhạc, đoàn binh khí, đoàn cầm cờ, quan viên tế, đoàn múa phất cờ (bốn em nhỏ) và đoàn lễ nữ. Rồi kiệu được rước về đình làng, chờ ngày làng mở hội.
Chiều mùng chín tháng Giêng, các quan viên tế tại đình làng; các môn vật, bóng chuyền hơi khai mạc. Sáng mùng mười là chính hội: khai mạc lễ hội, quan viên làm lễ tế ở đình. Buổi tế gồm một chủ tế, một người đọc chúc, hai người giữ đèn, hai người đánh chiêng, trống, một tây tán, một đông tán… tất cả khoảng 30 người. Sau lễ tế là những trò chơi dân gian và các môn thể thao kéo dài đến chiều. Đến ngày mười hai tháng Giêng, làng tiến hành lễ hạ cờ – hội kết thúc.
Đồ lễ của Mạch Tràng có hoa quả, xôi, gà, bánh dày, bỏng chủ, oản, bánh vừng; đồ thờ có mâm bồng, chân đèn, bát hương, đỉnh đồng. Đồ rước gồm kiệu Bát Cống, kiệu văn, binh khí đao gươm, lọng che, cờ thần, bát bửu. Đội tế mặc quần trắng, áo thụng xanh, đội mũ chuồn, đi hài; đội dâng hương quần trắng, áo vàng.
Còn phần hội thì rộn ràng với vật dân tộc, đánh đu, đập niêu, cờ tướng, bóng chuyền hơi, hát quan họ giao duyên, thể dục dưỡng sinh, và giao lưu văn nghệ vào buổi tối.
Nghi lễ trong hội từ xưa đến nay hầu như không thay đổi; chỉ có quy mô hội rộng hơn, số môn thể thao và trò chơi dân gian nhiều hơn. Ngôi đình được sắm thêm đồ rước, đồ thờ nhờ sự hỗ trợ của chính quyền và công đức của người dân; làng cũng tích cực tuyên truyền ý nghĩa của lễ hội – tưởng nhớ công đức các bậc tiền nhân, khơi dậy niềm tự hào của những người là chủ thể của hội.



