Lễ hội làng Xuân Trạch
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu

Làng Xuân Trạch với địa thế ở ven sông, đất đai mầu mỡ, từ xa xưa dân làng chủ yếu làm ruộng, trồng các loại cây lương thực như: lúa, ngô, khoai, lạc và trồng dâu nuôi tằm. Cũng giống như người Việt ở các làng quê Bắc Bộ, người dân làng Xuân Trạch có đời sống tín ngưỡng khá phong phú, trong đó không thể thiếu tín ngưỡng thờ thành hoàng làng. Lễ hội Rước nước làng Xuân Trạch cũng xuất phát từ việc phụng thờ thành hoàng làng này.
Lễ hội truyền thống làng Xuân Trạch gắn liền với sự tích về hai mẹ con thành hoàng làng. Thần tích được khắc trên tấm bia đá: “Xã thần ngọc phả bi ký” (bài ký trên bia ghi chép về sự tích vị xã thần) cùng các sắc phong còn lưu giữ được tại đình có ghi: Xạ Thần Quốc Lang là con trai thứ năm của vua Hùng thứ 17 - Nghị Vương và bà Ngoạn Phi Vân (phi thứ 4) người trang Xuân Trạch. Tương truyền ngài là Long thần do Thiên đình sai xuống để làm con bà. Ngài được sinh nhằm ngày mùng 10 tháng Ba năm Ất Sửu. Lên sáu tuổi đã bắn cung giỏi như thần được vua cha vô cùng yêu quý khen ngợi và đặt tên Xạ Thần Quốc Lang. Ngài có công cứu dân trang khỏi dịch bệnh và cùng Tản Viên Sơn Thánh giúp triều Hùng đánh giặc giữ nước. Sau khi mất triều đình gia phong mỹ tự “Xạ Thần Quốc Cao Minh Sơn Thánh chủ" để thờ phụng muôn đời, hương hoa mãi mãi.
Theo cổ lệ, hội làng được tổ chức trong 5 ngày từ mùng 8 đến 13 tháng Ba, vào ngày mùng 10 tháng Ba là ngày hội chính theo ngày giỗ tổ Hùng Vương. Đình là nơi thờ thành hoàng làng, đền là nơi thờ thánh mẫu thân sinh ra thành hoàng. Không gian tổ chức lễ hội tại đình làng Xuân Trạch.
Trước đây, lý trưởng hoặc phó lý làm chủ tế và quản lý điều hành các công việc chung trong lễ hội. Hội đồng kỳ mục có trách nhiệm tư vấn, giám sát các công việc thuộc về nghi lễ, thờ cúng thần. Hội tư văn bầu ra một ban tế, trong đó người đứng đầu về lễ gọi là ông điển lễ. Ông điển lễ chịu trách nhiệm chính trong việc phân công việc trong lễ hội, tổ chức và hướng dẫn thể lệ, nghi lễ bên đình. Các giáp trong làng đều phải chuẩn bị điều kiện vật chất như mua sắm lương thực, thực phẩm, lễ vật tế thần, hương hoa trầu rượu, chế biến lễ vật, cỗ bàn và lo việc đón tiếp khách... Các giáp trong làng phải chọn nam thanh, nữ tú để tham gia vào việc rước nước trong lễ hội. Đối với dân làng Xuân Trạch lễ vật được gọi là cung tần phi lễ tức là lễ bạc, thường do ông điển lễ và các giáp trong làng thực hiện. Làng có ruộng công để phục vụ cho việc biện lễ này. Lễ vật gồm: Hương, đèn, nến; chè, rượu; trầu cau; hoa quả; vàng mã; gà; thịt lợn; cá chép; thịt bò; xôi; bánh trái; cỗ chay; lễ có thủ lợn; lễ có cả con lợn; chân giò lợn. Đặc biệt trong đồ lễ dâng thánh không thể thiếu bánh trôi. Dân trong làng nhà nào cũng phải có bánh trôi, đặt trên bàn thờ tổ tiên ngày hội làng. Người dân Xuân Trạch không ăn tết Hàn thực như các nơi khác, mà chỉ làm loại bánh này vào dịp hội làng để dâng thánh. Ngày mùng 8 khai hội và tổ chức lễ rước nước, ngày mùng 9 diễn ra lễ “Tắm thánh”, ngày mùng 10 chính hội, làm lễ tế thành hoàng làng bên đình và lễ tế đức thánh mẫu bên đền, ngày 11 là ngày chứa lão (các cụ ông bên đình là những người trên 50 tuổi đã được công nhận vào giới lão và đã làm thủ tục khao lão ở đình), ngày 12 là ngày chạ bốn ông lính (cai đám của 4 giáp) chiều và tối cũng tổ chức vui chơi và xem hát trống quân, hát đố; ngày 13, ngày sinh thánh mẫu, là ngày hội chư bà, hội của các cụ bà ở bên đền (đây là ngày các cụ bà góa chồng làm lễ vào cửa mẫu).
Hiện nay lễ hội vẫn diễn ra hằng năm và đã trở thành lệ làng không thể thiếu được, vẫn bảo đảm các thủ tục và nghi lễ như trước nhưng một số thủ tục được rút ngắn, giản lược. Hội làng được gói gọn trong một ngày là ngày 10 tháng Ba âm lịch.
Nét nổi bật nhất trong lễ hội làng Xuân Trạch là lễ rước nước và lễ tắm thánh. Sáng ngày mùng 10, ban tổ chức, các cụ, các ban ngành đoàn thể cùng đông đảo bà con dân làng tập trung tại sân đình làm lễ khai hội, sau đó sắp xếp đội hình đi rước nước. Lễ rước nước về thờ cúng là một hành động thiêng liêng của tín ngưỡng cầu nước có từ xa xưa trong tâm thức người dân ven sông vùng Bắc Bộ với mong ước về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Trước khi rước nước, một người cao tuổi đánh một hồi trống cái phát lệnh. Ông chủ tế cùng đại diện ban tổ chức biện lễ xin phép được đi rước nước. Lễ để rước nước có sáu mâm: một mâm ở đình, một mâm ở đên, một mâm ở chùa và ba mâm mang cúng thần sông. Hai mâm lễ mang ra sông được đưa cho người lái thuyền làm lễ cầu xin thần sông che chở để đoàn đi lấy nước được thuận buồm xuôi gió. Lễ còn lại được ông chủ tế và một vị cao niên trong làng làm lễ trên sông xin thần cho phép lấy nước. Đoàn rước nước đi thành hai hàng (một bên là rước nước về đình, một bên rước về đền thánh mẫu) với đầy đủ cờ, lọng, đầu rồng, mâm lễ, trống, chiêng, bát âm, thanh la, chấp kích, kiệu bát cống, chóe lọng,... và đại diên của các ban ngành, đoàn thế cùng nhân dân trong làng. Tất cả đều thành tâm theo đoàn rước với một lòng thành kính và niềm tự hào. Đoàn rước nước đi ra bờ đê đến gốc gạo đầu làng làm lễ xuống thuyền lấy nước. Vị trí lấy nước là khu vực giữa ngã ba sông nơi hợp lưu giữa sông Đuống và sông Hồng. Ông chủ tế làm thủ tục xin phép thần sông để được lấy nước vào chóe. Trước khi múc nước người ta thả một vòng tròn quấn dây đỏ và múc nước trong đó để tránh những uế tạp trên sông. Chủ tế bên đình lấy 7 gáo nước vào chóe bên đình, còn chủ tế bên đền múc 9 gáo vào chóe bên đền. Việc lấy nước kết thúc, đoàn rước bắt đầu rước nước về. Khi đám rước nước trở về đến ngã rẽ thì đám rước được chia làm hai khối rẽ vào đình và đền. Đội rước nước về đến sân đình thì tập trung lại nghỉ ngơi. Các cụ phụ lão trong ban tế đã được phân công chuẩn bị lấy nước được rước về làm lễ tắm thánh sau đó làm lễ tế thánh. Bên đền, đội rước nước về đến nơi các cụ bà bên đền sẽ lấy nước rước về làm lễ mộc dục, lau đồ thờ bên ban thờ mẫu, sau đó chuẩn bị đội dâng hương làm lễ tế thánh mẫu.
Với lễ hội làng Xuân Trạch thì việc rước nước được lấy từ ngã ba sông về đình một cách thành kính ngoài ý nghĩa khát khao ước vọng một năm mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở thì còn có một ý nghĩa khác rất đặc thù đó là lấy nguồn nước được chảy từ quê cha đất tổ ở Bạch Hạc, Việt Trì mang tắm cho con vào ngày sinh để khai thông thất khướu, để có trí tuệ và thế lực hơn người. Sau khi đội rước nước về đến đình làng, hai thanh niên khỏe mạnh được phân công khiêng chóe đựng nước có phủ tấm vải đỏ vào trong hậu cung để các cụ trong ban tế làm lễ tắm thánh. Mỗi năm một lần hội tư văn bầu ra ba người trong ban tế vào làm lễ tắm thánh, ba người được bầu chọn là những người từ 50 tuổi trở lên có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong làng, có học thức, thành đạt trong cuộc sống, gia đình yên ấm, con cái đề huề, có ý thức thanh khiết trước cửa thánh và phải song toàn.
Lễ tắm thánh được làm một cách tượng trưng là lau rửa bài vị, ngai thờ, phủi bụi trên mũ áo, hia và các vật dụng của thánh chốn hậu cung. Do vậy những người được giao nhiệm vụ này cảm thấy rất vinh dự và tự hào khi mình là người được chọn trong năm. Lễ tắm thánh được tiến hành trong hậu cung, mọi hành động, động tác đều hết sức nhẹ nhàng, cẩn thận, nghiêm túc và tôn kính. Lễ tắm thánh kết thúc ba người đi ra báo lại cho hội tư văn và ban tổ chức là đã xong, ban tế chuẩn bị vào đội hình hành lễ tế thánh. Khi ban tế đã tiến hành xong lễ tế thánh, dân làng, các ban ngành đoàn thể, các làng lân cận và khách thập phương vào làm lễ thánh, thánh mẫu.
Có thể thấy lễ tế trong ngày hội là một tập hợp những động tác, những hành vi kính cẩn, thiêng liêng được diễn đạt có trình tự, hệ thống, nhằm biểu thị lòng tin và sự thành kính của con người, của cộng đồng làng xã đối với thần linh nói chung, đối với vị thành hoàng và thánh mẫu làng Xuân Trạch nói riêng. Lễ hội làng Xuân Trạch thực sự là hoạt động văn hóa, tín ngưỡng biểu thị sức mạnh của cộng đồng, sự cố kết làng xóm. Tất cả mọi người đến với lễ hội đều có chung một ý nghĩ, một tâm niệm về với cội nguồn, với ước vọng cầu mong cho mưa thuận gió hòa, người an, vật thịnh. Chính vì lẽ đó mà từ xưa đến nay lê hội truyền thống đã được bảo lưu, duy trì và là niềm tự hào của người dân nơi đây. Qua các hoạt động trong lễ hội, với sự chuẩn bị, tham gia của các thành viên trong cộng đồng đã góp phần giáo dục để họ trở thành con người của cộng đồng, sống vì cộng đồng, biết ơn tổ tiên, uống nước nhớ nguồn, sống có trách nhiệm với quê hương.
Có thể nói, lễ hội Rước nước truyền thống làng Xuân Trạch hàm chứa những giá trị văn hóa được chắt lọc từ nhiều thế hệ. Đó là lối sống, nếp sống được hình thành trên những giá trị nhân văn của con người có sự phù hợp của các yếu tố tự nhiên và xã hội. Điều đó cũng giúp lễ hội Rước nước còn tồn tại với thời gian và là niềm tự hào của người dân làng Xuân Trạch.



