Câu chuyện điểm đến
01Quá trình ra đời và tồn tại của Lễ hội Chùa Đồng Bụt
Từ xưa đến nay, nhân dân trong vùng vẫn truyền lại câu ca về ngày mở hội Chùa Thiền sư rằng: “Mùng 7 hội Thầy, mùng 10 hội Sếp nhớ ngày mà đi” (Hội Thầy, trong quần thể di tích chùa Thầy, cũng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh, ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Hội Sếp, ý chỉ Lễ hội Chùa Thiền sư). Vào các năm chẵn, làng mở hội to, có rước thánh, Lễ hội Chùa Thiền sư diễn ra trong 3 ngày, từ ngày mùng 8 đến ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch. Còn vào các năm lẻ, không tổ chức rước, Lễ hội Chùa Thiền sư diễn ra trong 2 ngày, từ mùng 9 đến mùng 10 tháng 3 Âm lịch.
Đến ngày nay, nhìn lại lịch sử ra đời của Lễ hội Chùa Thiền sư, các nguồn tài liệu chưa cho biết rõ Lễ hội xuất hiện sớm nhất vào thời gian nào, nhưng chúng ta căn cứ vào hành trạng, lai lịch của Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? - 1116), có thể suy đoán rằng, sau khi ngài hóa (năm 1116), đồng nghĩa với việc nhân dân thôn Đồng Bụt sẽ dựng Chùa Thiền sư và sau đó tổ chức lễ hội tưởng nhớ đến công lao của ngài đối với nhân dân.
Nguồn tư liệu sớm nhất và khá tin cậy có thể giúp chúng ta suy luận về sự ra đời của Chùa Thiền sư cũng như Lễ hội ở nơi đây là những ghi chép trên minh chuông: 禪 師 寺 鍾 - Thiền sư tự chung (Chuông chùa Thiền sư), chuông này đúc lại năm Gia Long thứ 18 (1820), nhưng có nhắc tới một quả chuông cổ trước đó từng khắc ghi Chùa Thiền sư, cũng như việc thờ tự Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở đây được diễn ra từ thời Trần, niên hiệu Trần Đại Trị (vua Trần Dụ Tông) năm thứ 12 (1369), tư liệu viết: 國 威 府 安 山 縣 伏 臘 社 同 孛 村 […] 旧 事 跡 有 徐 聖 父 生 徐 大 聖 于 本 村 有 田 土 留 與 户[見] 均 分 四 甲 爲 香 火 忌 臘 奉 事 於 陳 朝 大 治 十 二 年 刻 入 洪 鍾 至 丙 午 年 間 被 [...] 兵 鍾 噐 悉 [消] 至 兹 就 京 再 鑄 洪 鍾 事 已 完 成 所 有 田 土,遵 依 旧 額 刻 入 留 傳 后 世 及 會 主 興 功 功 德 刓 刻 姓 名 並 列 于 后 - phiên âm: Quốc Oai phủ, An (Yên) Sơn huyện, Phục Liệp xã, Đồng Bụt (Bột) thôn […], cựu sự tích hữu Từ thánh phụ sinh Từ Đại Thánh vu bản thôn, hữu điền thổ lưu dữ hộ [kiến] quân phân tứ giáp vi hương hỏa kỵ lạp, phụng sự ư Trần triều Đại Trị (1358 - 1369) thập nhị niên khắc nhập hồng chung, chí Bính Ngọ niên gian bị [...] binh, chung khí tất [tiêu], chí tư tựu kinh tái chú hồng chung, sự dĩ hoàn thành, sở hữu điền thổ, tuân y cựu ngạch, khắc nhập lưu truyền hậu thế, cập hội chủ hưng công công đức ngoan khắc tính danh, tịnh liệt vu hậu - tạm dịch: Quan viên hương lão, các giáp trong thôn […], có sự tích Từ thánh phụ sinh ra Từ Đại thánh tại thôn này, có lưu lại ruộng, đất để chia đều cho bốn giáp trong làng, hàng năm phụng thờ, hương khói, lệ này có từ năm Đại Trị thứ 12 (1369), tức thời vua Trần Dụ Tông và được khắc vào chuông đồng. Đến năm Bính Ngọ, do thời cuộc thay đổi, chuông đánh không kêu, nên đúc lại chuông mới, nên đã khắc lại tục lệ xưa để lưu lại hậu thế muôn đời, kèm theo danh tính của các cá nhân và gia đình công đức.
Tiếp đó, một nguồn sử liệu khác là: 同 孛 村 奉 抄 舊 事 跡 - Đồng Bột (Bụt) thôn phụng sao cựu sự tích (Sự tích cũ ở thôn Đồng Bụt (sao lại), sự tích được soạn dưới triều vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1776) [景興 叁 拾 陸 年 弍 月 初 捌 日 本 村 奉 寫 事 跡]. Nguồn tài liệu này được nhân dân sao lại vào ngày 4 tháng 3 năm 1964 và được đóng dấu đỏ xác thực việc sao y bản gốc bởi Vụ Bảo tồn Bảo tàng, thuộc Bộ Văn hóa và đến ngày 5 tháng 3 năm 1964, quyển sự tích này lại được đóng dấu đỏ xác thực sao y bởi Ủy ban Hành chính huyện Quốc Oai. Trang 17, nguồn tư liệu này chép: 一 跡 丙 申 會 祥 大 慶 三 年 三 月 初 七 日 午 時 道 行 涅 槃 未 時 出 世 爲 李 神 宗 同 孛 村 遞 年 季 奉 迎 會 例 - Phiên âm: Nhất tích Bính Thân Hội Tường Đại Khánh tam niên tam nguyệt sơ thất nhật Ngọ thời Đạo Hạnh niết bàn Vị thời xuất thế vi Lý Thần Tông Đồng Bột (Bụt) thôn đệ niên quý phụng nghênh hội lệ - Tạm dịch: Sự tích vào năm Bính Thân, Hội Tường Đại Khánh ngày mùng 7 tháng 3, năm thứ 3, thuộc giờ Ngọ, (Từ) Đạo Hạnh niết bàn vào giờ Mùi, xuất thế làm Lý Thần Tông, thôn Đồng Bụt hàng năm mở hội theo lệ. Như vậy, đây là tài liệu cho biết cụ thể nhất về Lễ hội Chùa Thiền sư.
Đến thời Nguyễn, trong văn bản 供 聖 科 - Cúng thánh khoa (Bài văn cúng thánh), tư liệu được sao lại dưới thời vua Minh Mệnh năm thứ 20 (1840), đã nhiều lần nhắc đến từ hội lệ (會 例). Trong số đó có một số đoạn viết: 會 例 迎 聖 在 舘 陳 奏 文 - Hội lệ nghênh thánh tại quán trần tấu văn - Lễ hội quy định việc đón/rước thánh tại Quán trần và có tấu văn. Một đoạn khác viết: 會 例 供 聖 跡 伏 以 - Hội lệ cúng thánh tích phục dĩ - Lễ hội quy định việc cúng thánh trang nghiêm như sau. Tư liệu này còn cho biết thêm trong dịp lễ hội, công việc liên quan còn được giao cho các tổ chức như: Hội lão, quan viên, sắc mục, các giáp (Đông Nhất giáp, Đông Nhị giáp, Thượng Nhất giáp, Thượng Nhị giáp, Đoài Nhất giáp, Đoài Nhị giáp. Phú Cường giáp) trong làng đảm nhiệm.
Do các ghi chép thành văn trực tiếp về Lễ hội Chùa Thiền sư không còn lưu lại đến ngày nay, nên việc phục dựng lại lịch sử ra đời của Lễ hội Chùa Thiền sư qua các thời kỳ không được đầy đủ và gặp khó khăn. Nhưng có một điều chắc chắn là, không gian thờ tự - Chùa Thiền sư, luôn có một quá tình tồn tại liên tục, điều này thể hiện qua các lần dân làng trùng tu và khắc lưu văn bia, cũng như các nhà nước quân chủ đã liên tục ban sắc phong cho Chùa Thiền sư. Thông qua việc ban sắc phong liên tục, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong tâm thức cư dân thôn Đồng Bụt về Thiền sư Từ Đạo Hạnh và việc thực hành lễ hội luôn được diễn ra tại không gian thiêng Chùa Thiền sư. Các văn bia cho biết các lần trùng tu Chùa Thiền sư là: Pháp sư tự bi, dựng năm 1669, niên hiệu Cảnh Trị thứ 7, đời vua Lê Huyền Tông; Hộ Pháp tự bi, dựng năm Minh Mệnh nguyên niên (1820), Hội lão hậu bi ký, niên đại dựng bia năm Bảo Đại thứ 19 (1943), cùng các sắc phong của các triều đình quân chủ qua các năm là: Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), năm Chiêu Thống thứ nhất (1787), năm Quang Trung thứ năm (1792), năm Cảnh Thịnh thứ nhất (1788), năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), năm Tự Đức thứ 3 (1850), năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), năm Duy Tân thứ 3 (1909), năm Khải Định thứ 9 (1925),… Mặc dù các tư liệu này không trực tiếp cho biết quá trình tồn tại của Lễ hội Chùa Thiền sư, nhưng qua các lần tôn tạo chùa lưu trong bi ký, nhận sắc phong như nêu trên, đã gián tiếp cho thấy tín ngưỡng và sự hiện diện liên tục của Chùa Thiền sư trong đời sống cư dân nơi đây. Không gian thực hành và diễn xướng của Lễ hội Chùa Thiền sư là Chùa Thiền sư luôn được bảo lưu và tồn tại qua các thời kỳ, nên đây là cơ sở để Lễ hội Chùa Thiền sư luôn được bảo lưu và duy trì.
Trong những năm của thế kỷ XX, khi đất nước trải qua các cuộc chiến tranh, Lễ hội Chùa Thiền sư ít nhiều vẫn được tổ chức. Theo dân làng kể lại, năm 1952 là lần cuối cùng tổ chức lễ hội có quy mô lớn diễn ra trong thế kỷ XX. Sau đó, do bối cảnh thời chiến cộng với những khó khăn về kinh tế, dân làng đã không duy trì được lễ hội rước vào các dịp đại lễ. Một chi tiết nữa để khẳng định trong những năm tháng chiến tranh của thế kỷ XX, Lễ hội Chùa Thiền sư vẫn thỉnh thoảng diễn ra, đó là vào năm 1961, các cụ cao niên ở thôn Đồng Bụt đã cho dịch thể lệ và nội dung cuộc thi kinh, thi Kệ từ văn bản chữ Hán, sang chữ Quốc ngữ. Thi Kinh, thi Kệ trong Lễ hội Chùa Thiền sư là một trong những nội dung sinh hoạt cổ truyền diễn ra trong khi tổ chức Lễ hội hàng năm. Tư liệu này hiện vẫn được lưu giữ tại Chùa Thiền sư.
Đến khoảng đầu những năm 1990, cùng trong xu thế Đổi mới của đất nước, đời sống kinh tế của nhân dân từng bước được cải thiện, cộng với các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống được ban hành, đã tạo nên động lực để nhân dân thôn Đồng Bụt tổ chức lại Lễ hội Chùa Thiền sư.
Từ đó đến nay, hàng năm vào ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch, Lễ hội Chùa Thiền sư hầu như năm nào cũng được tổ chức, nhằm tưởng nhớ đến Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Các năm tổ chức quy mô lớn thì được thực hiện 5 năm 1 lần, bằng việc nhân dân tổ chức rước Thiền sư Từ Đạo Hạnh từ Chùa Thiền sư lên Quán Thánh. Các năm tổ chức quy mô nhỏ, Lễ hội Chùa Thiền sư chỉ tế lễ tại chùa. Đến năm 2011, lần đầu tiên từ năm 1952, Lễ hội Chùa Thiền sư lại tổ chức rước thánh.
Hàng năm, việc tổ chức Lễ hội Chùa Thiền sư thường gắn với việc tế thánh tại ngôi chùa này. Những năm lễ hội diễn ra quy mô nhỏ, việc tế thánh diễn ra vào sáng ngày mùng 10 tháng 3, còn những năm tổ chức quy mô lớn, việc tế thánh tổ chức vào sáng ngày mùng 9 tháng 3, để đến sáng ngày mùng 10 tháng 3 dân làng rước Thiền sư Từ Đạo Hạnh lên Quán thánh. Nghi lễ tế thánh cũng được nhân dân trong làng phục hồi vào đầu những năm 1990, sau một thời gian mai một do các điều kiện chủ quan và khách quan. Kể từ đó đến nay, nghi thức tế luôn được thực hành vào mỗi dịp lễ hội diễn ra và các nghi lễ tế được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua đó đảm bảo tính kế tục trong thực hành văn hóa và tín ngưỡng thời cúng Thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Nối tiếp từ truyền thống đến hiện tại, Lễ hội Chùa Thiền sư vẫn được bảo lưu và duy trì là một lễ hội quy mô cấp vùng, thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân gần xa và khách thập phương đến lễ hội.
Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể
* Giá trị lịch sử
Trong khía cạnh này, khi chưa bàn đến giá trị văn hóa, giá trị khoa học hay giá trị thẩm mỹ,… thì Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã là một nhân vật lịch sử có thật, một vị cao tăng tu hành và đắc đạo dưới thời Lý, thời kỳ mà Phật giáo được triều đình và nhân dân coi trọng và trở thành quốc giáo, với vai trò phụng sự đắc lực cho vương triều Lý cũng như đời sống tư tưởng, tinh thần và tâm linh của xã hội Đại Việt khi đó. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã nhiều lần chép về Từ Đạo Hạnh, trong đó có cả yếu tố thực và yếu tố ảo, cụ thể như sau:
“Bấy giờ (năm Nhâm Thìn 1112), vua (Lý Nhân Tông) tuổi đã nhiều mà chưa có con trai nối dõi, xuống chiếu chọn con của tông thất để lập làm con nối. Em vua là Sùng Hiều hầu (không rõ tên) cũng chưa có con trai. Gặp lúc nhà sư núi Thạch Thất là Từ Đạo Hạnh đến chơi nhà, hầu nói với Đạo Hạnh về việc cầu tự. Đạo Hạnh dặn rằng: "Bao giờ phu nhân sắp đến ngày sinh thì báo cho tôi biết trước để cầu khấn với sơn thần". Ba năm sau, phu nhân có mang sinh con trai là [Lý] Dương Hoán (tức vua Lý Thần Tông sau này)” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1998, tr. 286).
“Năm Bính Thân (1116), mùa hạ, nhà sư Từ Đạo Hạnh trút xác ở chùa núi Thạch Thất (Thạch Thất là tên huyện, tức là huyện Ninh Sơn ngày nay, tên núi là Phật Tích. Từ Đạo Hạnh đến chơi núi ấy, thấy tảng đá trong hang núi có vết chân người, lấy chân ướm vào vừa đúng: tục truyền đó là chỗ Đạo Hạnh trút xác). Trước là phu nhân của Sùng Hiến Hầu là Đỗ thị đã có mang, đến đây trở dạ mãi không đẻ. Hầu nhớ lại lời Đạo Hạnh dặn khi trước, sai người chạy ngựa đi báo. Đạo Hạnh lập tức thay áo tắm rửa, vào hang núi trút xác mà qua đời. Sau đó phu nhân sinh con trai, tức là Dương Hoán. Người làng cho là việc lạ, để xác Đạo Hạnh vào trong khám để thờ. Nay núi Phật Tích tức là chỗ ấy. Hàng năm, mùa xuân, cứ đền ngày mồng 7 tháng 3, con trai, con gái hội họp ở chùa, là hội vui có tiếng một vùng (tức Chùa Thầy). Người đời sau ngoa truyền là ngày giỗ của sư (xác Đạo Hạnh đến khoảng năm Vĩnh Lạc nhà Minh, bị người Minh đốt cháy, người làng ấy lại đắp tượng lại thờ như cũ, hiện nay hãy còn)” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1998, tr. 287).
Những ghi chép nêu trên trong chính sử là giá trị lịch sử cụ thể về Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Cùng với tư liệu từ chính sử, kết hợp với hệ thống di tích liên quan đến việc phụng thờ Từ Đạo Hạnh còn lại đến ngày nay, trong đó có thực hành lễ hội như trường hợp Lễ hội Chùa Thiền sư, càng góp phần khẳng định giá trị lịch sử về thân thế, sự nghiệp của Thiền sư Từ Đạo Hạnh với Phật giáo thời Lý, cũng như với đời sống Phật giáo ở một số làng quê hiện nay.
* Giá trị văn hóa, xã hội
Từ xưa đến nay, lễ hội truyền thống cũng như lễ hội đương đại đều hướng tới sự cố kết cộng đồng, giao hòa tình cảm, Lễ hội Chùa Thiền sư cũng mang những giá trị như vậy. Với tính chất phổ quát chung của thời điểm diễn ra lễ hội ở Việt Nam là Xuân Thu nhị kỳ, Lễ hội Chùa Thiền sư được tổ chức vào mùa Xuân (chính hội là ngày 10 tháng 3 Âm lịch), thời điểm mà công việc cày cấy vụ Xuân đã xong, đây cũng được xem là lúc nông nhàn, do đó, nhân dân càng có thời gian để hòa vào không khí của lễ hội, hòa vào sinh hoạt chung của cộng đồng. Ở đó, họ được giao lưu, tiếp xúc, trò truyện, tay bắt, mặt mừng, với người xa, kẻ gần,… điều này đã tạo nên sự cởi mở, sự phấn chấn trong tâm hồn mỗi người dân. Và điều quan trọng hơn là, những liên kết, những mạng lưới xã hội như vậy đã tạo nên một khối thống nhất, thắt chặt hơn và cũng thông qua đó, bảo lưu và truyền tải được các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội.
Trung tâm và linh hồn của Lễ hội Chùa Thiền sư là Đức thánh Từ Đạo Hạnh, là người đã hóa thành Phật, thành thánh, được thiêng hóa. Do vậy, theo tư duy và văn hóa truyền thống của người Việt Nam, các vị thần thánh luôn là người che chở, bảo hộ cho dân làng. Chính vì vậy, việc đi lễ chùa, đi trẩy hội Chùa Thiền sư cũng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tâm linh, được trải lòng, được “đối thoại với thần thánh”, được bộc bạch và thốt ra những điều mà bấy lâu nay vẫn ấp ủ trong lòng, thậm chí được giải tỏa áp lực,… để cầu mong tâm hồn được thanh thản, cuộc sống được bình an, may mắn,…
Giá trị văn hóa của Lễ hội Chùa Thiền sư còn được thể hiện ở việc gìn giữ và trao truyền nét văn hóa văn hóa truyền thống. Cộng đồng tham gia lễ hội có đủ các lứa tuổi, từ trẻ em, người lớn đến người già, với nhiều cấp bậc, trình độ nhận thức khác nhau. Nhưng thông qua lễ hội, họ được hiểu biết về văn hóa truyền thống của làng mình, họ được thâu nhận, được hấp thụ văn hóa và qua thời gian, nó trở thành ký ức, trở thành di sản, trở thành hành trang văn hóa cho riêng mình. Lễ hội cũng được xem như một lớp học lớn truyền thụ kiến thức về văn hóa cho đông đảo quần chúng cùng lĩnh hội. Cũng từ đây, từng cá nhân lại trao truyền, kể lại các tình tiết diễn ra trong lễ hội cho các thế hệ đi sau, thế hệ mới lớn,… Do vậy, cùng với việc bảo lưu và trao truyền giá trị văn hóa, thì lễ hội còn góp phần giáo dục truyền thống, giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc đối với các thế hệ.
* Giá trị khoa học
Thiền sư Từ Đạo Hạnh đến với cửa Thiền dưới vương triều Lý, khi Phật giáo đang thịnh hành và được coi trọng. Trên cơ sở đó, việc tìm hiểu và làm rõ giá trị di sản của Lễ hội Chùa Thiền sư sẽ mang lại nhận thức khoa học sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Bên cạnh đó, dựa trên nguồn tư liệu thành văn lưu tại Chùa Thiền sư và truyền thuyết ở làng Đồng Bụt, sẽ góp phần bổ khuyết cho những nghiên cứu xưa nay chưa đầy đủ về Thiền sư Từ Đạo Hạnh, về Phật giáo thời Lý và những đóng góp của ông với vương triều Lý.
Việc tìm hiểu, làm rõ nguồn cội của Lễ hội Chùa Thiền sư còn cung cấp cơ sở khoa học tin cậy, qua đó góp phần tư vấn có hiệu quả cho các cấp quản lý trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản; góp phần tuyên truyền và giáo dục nhận thức của người dân địa phương trong việc gìn giữ, thực hành và phát huy giá trị của di sản.



