Ý muốn nói Hồ Tây là mạch chính của núi Tản Viên xong từ Hồ Tây sẽ thoát mạch về cánh đồng Trầm thôn Hậu Ái xã Vân Canh luôn luôn xuất hiện những người tài giỏi đỗ đạt cao.
Ngài Đỗ Kính Tu được sinh ra tại vùng đất địa linh nhân kiệt đó.
Đỗ Kính Tu, khi làm quan ba triều đại nhà Lý được phong họ vua là Lý Kính Tu. Thân phụ của Ngài là Đỗ Khiêu một nhà nho của làng Di Ái (tên lúc bấy giờ).
Năm sinh và năm mất của Ngài đến nay chưa rõ. Theo cuốn Thần Phả của cụ Chế khoa Tiến sỹ Nguyễn Bá Đôn thì Ngài sinh năm 1172 (Nhâm Thìn).
Ngài thông minh từ nhỏ, lên 2 tuổi đã biết nhớ mặt chữ, lên 3 tuổi đã biết triết tự tức (phân tích chữ vì chữ Hán thường gồm nhiều chữ ghép lại). Lên 5 tuổi đã đi học thầy.
Khi lên 8 tuổi nhân có vị sư ở thành Thăng Long về thăm thân phụ Ngài, thấy Ngài thông minh nên đón đi học ở chùa. Năm Ngài 13 tuổi đi thi đã đỗ đầu khu vực bản xứ (thủ khoa). Nhà sơ cho Ngài học thêm môn võ, 18 tuổi Ngài đỗ trường Phố (Giảng Võ bây giờ). Được vua cử đi dẹp giặc, Ngài lập công dẹp yên được giặc.
Năm 23 tuổi nhà vua mở khoa thi Tam Giáo (Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo) Ngài đỗ đầu khoa thi Thời Lý gọi bằng cấp này là "Thái học sinh" (Thời Trần gọi là Tiến Sĩ) cùng với 3 người bạn nữa được nhà vua xung chức "Hàn Lâm viện Đại học sĩ".
Năm 1204 Ngài là Thái Bảo Phụ Quốc sau khi dẹp giặc ở Đại Hoàng Ngài được vua phong tặng Tam Công (Thái sư, Thái Bảo và Thái phó) rồi Đại Vương.
Khi Vua Lý Cao Tôn mất có giao ủy thác cho ngài lập Thái tử Sảm lên ngôi vua và phong cho Ngài làm Thái Uý phụ chính (Thái Úy là chức lớn nhất trong triều đình nhà Lý).
Như vậy là Ngài đã làm quan 3 đời vua nhà Lý (Anh Tôn, Cao Tôn và Huệ Tôn).
Còn đối với dân làng Hậu Ái Ngài đã có 2 việc lớn đó là:
Việc thứ nhất là; Chuyển toàn bộ dân làng Từ khu vực "Gò Tu" về vị trí bây giờ đảm bảo thuận lợi đi lại, làm ăn đồng áng, liền với hai thôn cùng xã lại không bị bọn trộm cướp đến quấy phá. Từ đó dân làng kiêng húy tên của Ngài nên gọi là "Gò Tô".
Việc thứ hai là; Ngài cho đào con mương qua các làng Hòe Thị, Thị Cấm đổ ra sông Nhuệ thoát nước cho cánh đồng Trầm để dân làng gieo cấy được 2 vụ lúa ăn chắc không bị nạn ngập úng. Và cũng từ việc đó Ngài đã bị bọn gian thần tâu với nhà vua "Rằng Ngài có ý làm phản để cướp ngôi vua".
Với lỗi oan ức đó Ngài quyết định tự vẫn để tỏ lòng trung thành với vua, với nước, với dân. Truyền thuyết có kể lại; Trước mặt văn võ bá quan Ngài nói: "Nếu như ta có lòng làm phản vua hại dân, hại nước thì cả người và ngựa sẽ chết chìm không bao giờ quay lại. Song nếu việc làm của ta có lợi cho dân, cho nước thì cả người và ngựa sẽ quay ngược trở lại." Quả đúng như lời thề của Ngài cả người và ngựa vẫn trong tư thế phi nước đại quay ngược dòng nước về với làng Hậu Ái.
Biết tin Ngài bị oan ức nhà vua phong cho Ngài là "Thượng Đẳng thần" cho lập Đình thờ ngài ngay tại đầu làng Hậu Ái, đồng thời ban cho ruộng, vườn để chôn cất thi thể Ngài và lấy hoa lợi quanh năm hương khói cho Ngài (nay là Vườn Am khoảng 4000m2).
Ngày mất của Ngài là ngày 21 tháng 5 âm lịch. rất tiếc là không rõ năm (theo Thần Phả trên thì Ngài mất năm 45 tuổi).
Từ đó dân làng Hậu Ái cứ lấy ngày 21 tháng 5 âm lịch ngày giỗ của Đức Thánh là ngày lễ hội truyền thống của Làng.
Tuy Ngài đã mất trên dưới 800 năm xong hàng năm Ngài vẫn thể hiện cho sự linh thiêng như là: Ngày 21/5 mặc dù buổi sáng trời rất nắng nóng nhưng đến quá trưa và chiều là trời có mưa dông (theo kinh nghiệm thì cứ 10 năm vào ngày ấy sẽ có mưa đến 9 năm nên việc khi còn ruộng mọi gia đình đều tránh không gieo mạ mùa vào ngày 21/5).
- Sắc phong: có 05 sắc phong hiện đang lưu giữ tại đình làng:
+ Tự Đức thứ 33 ngày 24/1/1880.
+ Đồng Khánh thứ 2 năm 1887.
+ Duy Tân thứ 3 ngày 11/8/ 1909.
+ Khải Định 2 bản vào ngày 25 /7/1924.
- Năm 1989 Đình làng Hậu Ái được Bộ Văn hóa Quyết định công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia đối với Đình Hậu Ái và Mộ Đỗ Kính Tu.
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan v.v:
- Hội chính: Lễ hội hiện tại chỉ diễn ra trong 1 ngày là ngày 21 tháng 5 âm lịch là ngày giỗ của Ngài.
- Hội lệ: (cứ 5 năm 1 lần) tổ chức lễ rước kiệu từ Đình ra mộ và từ mộ trở về Đình từ ngày mùng 6 đến hết ngày 8 tháng 2 âm lịch.
- Đội tế nam 18 người, là các cụ ông từ 60 tuổi trở lên.
- Đội rước đối với năm (hội lệ) 200 người gồm:
+ Rước Hương Án 16 người + Bát bửu, phường bát âm 16 người = 32 người
+ Rước Long Đình 32 người + Bát bửu, phường bát âm 16 người = 48 người
+ Rước Kiệu 32 người + Bát bửu, phường bát âm 16 người = 48 người
+ Biểu 6 người + lọng 6 người + lọng 6 người, cờ 30 người = 32 người
Cùng người chỉ huy trống lệnh và dự bị = 40 người.
Là những con trai, con gái của làng.
- Các cụ ở trong ban hành lễ (18 ông) yêu cầu gia đình phải song toàn, có con trai, con gái và cháu nội, cháu ngoại (ba thế hệ) quy định này đã có từ xã xưa và được bàn để lựa chọn từ trước ngày tổ chức lễ hội một tháng. Trong quá trình thực hiện nếu có ông nào ảnh hưởng đến các quy định trên Ban tổ chức (BTC) sẽ tìm người thay thế.
- Nghi lễ và nghi thức (ngày giỗ Đức Thánh 21/5): Trước khi lễ hội 2 ngày BTC, các cụ và những người phục vụ lễ hội làm nhiệm vụ bao sái nội cung, Mộ Thánh, Gò Nàng, các đồ thờ tự bằng nước thơm, quét dọn xung quanh đình. Sáng ngày hôm sau trang trí cờ Tổ Quốc, cờ thần và các cờ trang trí từ Đình đến mộ Ngài và Gò Nàng.
Chiều sau Lễ Mục Dục. của các cụ trong ban hành lễ. Đoàn đại biểu BTC, các cụ cùng toàn thể nhân dân đi dâng hương Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại Nhà lưu niệm Bác Hồ và đặt vòng hoa tưởng niệm các liệt sỹ của xã.
- Hèm, kiêng kỵ:
Từ trước 7 ngày tổ chức lễ hội làng (ngày giỗ Đức Thánh) Toàn bộ Ban tổ chức, các cụ và những người tham gia phục vụ lễ hội không được ăn thịt chó. Đặc biệt ngày từ sáng ngày 20 đến 17 giờ 30 ngày 21/5. Nếu trong làng có người qua đời không được thổi kèn, đánh trống và đưa tang.
- Trong ban hành lễ có 01 ông làm Chủ tế mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ và đi hia đỏ; 01 ông làm thầy văn, 01 ông chuyển văn, 02 ông chấp hỏa, 01 ông Đông xướng, 01 ông Tây xướng, còn 11 ông làm nhiệm vụ bồi Tế. Toàn bộ các tuần tế đều do 2 ông Đông và tây xướng điều hành.
- Mở đầu là "Khởi trinh cổ" ( 03 hồi Chuông, trống)
Trong khi chờ ông chủ tế "Quán tẩy" và "Thuế tẩy" tức là rửa tay và lau tay phường bát âm đánh nhạc nền "Nhạc sinh tựu bi"
- Tiếp theo ông chủ tế cùng 02 ông chấp hỏa đi vào cung kiểm soát lễ vật. Sau khi kiểm soát lễ vật xong bắt đầu tế tuần rượu thứ nhất gọi là "Tuần sơ", tuần tiếp theo là tuần "Trúc" hay trúc văn. Sau đó tiếp tục 02 tuần rượu gọi là Tuần "Á" và "Sơ". Trong các tuần tế, các ông làm nhiệm vụ bồi tế lần lượt theo ông chủ tế dâng lễ vật từ sân tiền tế (sân ngoài) theo nhịp của chuông, trống đi vào dừng trước Án thư chuyển cho chủ tế để dâng lên Đức Thánh. Sau khi tế lễ xong 3 tuần rượu, 01 tuần trúc (văn) xong là lễ tất thì chỉ có 5 ông là chủ tế, thầy văn, chuyển văn, chấp hỏa là không phải lễ còn đâu đều phải lễ 4 lễ.
- Thời gian diễn ra 01 buổi tế lễ khoảng 90 đến 100 phút.
- Lễ hội thôn Hậu Ái hàng năm đều tổ chức các trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn nghệ như:
+ Câu lông, bóng bàn, cờ tướng, dưỡng sinh, võ thuật....
+ Biểu diễn văn nghệ hát quan họ trên thuyền, giao lưu các tiết mục văn nghệ với các thôn bạn...
- Đồ thờ: bát hương, ngai, bát bửu, đèn , lư, án thư, hạc....
- Lễ vật: Rượu, xôi, thịt lợn, thịt gà, hương, hoa trầu cau....
- Đồ cúng: Mâm bồng, bát, đũa....
- Trang phục: Áo đỏ, mũ đỏ, hia đỏ dành cho chủ tế còn áo xanh, mũ xanh giầy xanh dành cho các ông bồi tế, áo tứ thân dành cho sinh tiền.
Đội tế liên tục có những thành viên kế tiếp. Trong quy ước làng văn hóa đã có một số quy định về việc tổ chức lễ hội làng và lễ rước kiệu (5 năm 1 lần), Song chủ yếu vẫn là truyền miệng.