Và từ đó bà mang thai, đến giờ thìn ngày 12 tháng 2 năm Dinh Mão bà sinh. Lần đó bà sinh luôn năm người con trai. Cả năm đều có dáng hình to lớn, mặt mũi khôi ngô, giữa lưng đều có vấy đỏ đến tận hậu môn. Cả 5 đều khác thường có tài trí kỳ lạ. Năm 15 tuổi đều văn võ kiêm toàn và có phép lạ của thánh, thần.
Trong thời gian đó quân Thục hòng thôn tính nước ta, cùng với hạn hán, mất mùa liên miên, dịch bệnh, nạn trộm cắp và cướp bóc ngày càng nhiều. Trong lòng nhà vua đau sót về cuộc sống của nhân dân. Vua Hùng Duệ Vương ban Hịch tuyển chọn người hiền tài ra giúp dân, giúp nước.
Ứng với điều mộng của nhà vua cả năm anh em đều dự thi hiền, tài và đều được nhà vua trọng dụng. Trong đó có ông thứ ba là Đào Trường (Thành Hoàng làng Kim Hoàng) được nhà vua giao nhiệm vụ làm Nam long Trường Lệnh, quyền trưởng Trung hoa, Tẻ quốc vị Thổ Lệnh hầu. Thống quân ngũ thập thủy thần vị Thủy. ( tức là đứng đầu 50 vị thủy thần).
Năm anh em đã giúp nhà vua đuổi giặc ngoại xâm, hướng dẫn nhân dân tăng gia, sản xuất. Đất nước sạch bóng quân thù, đời sống nhân dân ngày càng lo đủ thì cả năm anh em được lệnh trở về trời.
Ngày 10 tháng 6 đang ngồi nghỉ ngơi trên mạn thuyền Rồng thì dưới đáy sông Tam Giang nổi lên tiếng vang rền như sấm sét. Mở ra một cái giếng ngay chỗ ông ngồi. Từ giếng đó nước dâng lên đầy cung sở. Ông cưới cá chép tay cầm ngọc bài tự nhiên hóa vậy.
Nhà vua biết tin ban cho mỹ tự là: "Thượng đẳng phúc thần vạn cổ huyết thực giữ quốc đồng hưu, vĩnh vi hằng thức" Tại đền Tam Giang đồng thời truyền hịch cho 172 làng thờ ngài và đều có sắc phong là: " Trung thành Thượng đẳng tối linh Đại vương". Như vậy là Đình Kim Hoàng là nơi thờ Thần Thủy và Thần Thổ đúng với truyền thống cổ của người Việt.
Theo cụ Trần Kiều dịch trong Ngọc Phả thì
Lễ hội truyền thống thôn Kim Hoàng hàng năm được tổ chức từ sáng ngày 10 đến hết ngày 13 tháng 2 âm lịch. 04 ( bốn) ngày;
- Ngày 10 tháng 2: + Sáng lễ " Mộc Dục"
+ Tổi tế "Nhập Tịch".
- Ngày 11 tháng 2: + Sáng tế "Mộc Dục" Và các gia đình có con trai sinh trong năm làm lễ "Vào làng"
+ Tối tế " Nhập Tịch "
- Ngày 12 tháng 2 + Trưa Tế lễ "Kỳ Phúc"
+ Tối "Tế thờ" (hát chèo trước cửa đình)
- Ngày 13 tháng 2 + Trưa "Tế Giã" (đám hội đã xong)
+ Tối "Lễ Tạ" (đóng cửa đình)
Nhưng từ khi phục hồi lại (năm 1985) chỉ tổ chức 03 ngày từ 10 đến 12/2 âm lịch.
- Ngày 10 tháng 2 + Sáng lễ “ Mộc Dục “
+ Tối Tế “ Nhập Tích ”
- Ngày 11 tháng 2 + Sáng các cụ bà rước oản từ Chùa vào đình sau đó các cụ bà làm lễ “ Dâng Hương ”
+ Tối “ Tế túc yết ”
- Ngày 12 tháng 2 + Trưa “ Tế Kỳ Phúc ”
+ Chiều “ Lễ Tạ ”
- Tại đình Kim Hoàng còn lưu giữ sắc phong .
- Nghi thức/kỹ năng chủ yếu là: Lễ tế.
- Đội tế nam 25 người và người hướng dẫn = 26 người có độ tuổi từ 55 trở lên.
- Đội dâng hương nữ có 40 người (02 thế hệ cao tuổi và trung tuổi ) để sẵn sàng thay thế khi cần thiết.
- Đội rước kiệu ( Long Đình ) gồm 23 người (01 người chỉ huy, 08 khênh kiệu, 06 người múa sinh tiền, 08 người bát âm.
Đình làng Kim Hoàng có Thần phá ( Ngọc phả cổ lực ) với truyền thuyết. Đình có 7 sắc phong ( 9 bản ) hiện đang lưu giữ tại đình làng:
+ Cảnh Hưng năm 44
+ Cảnh Thịnh năm thứ 4
+ Minh Mệnh năm thứ 2
+ Thiệu Trị năm thứ 2 ( 2 bản )
+ Tự Đức năm thứ 3
+ Tự Đức năm thứ 7
+ Khải Định năm thứ 9 ( 2 bản )
- Có những tập tục, hèm, nghi lễ, nghi thức, kiêng kỵ:
Trong 03 ngày hội làng toàn bộ BTC, các cụ và những người phục vụ lễ hội không được ăn thịt chó, ăn tỏi. Làng có quy định trong 03 ngày lễ hội của làng nếu có người qua đời không được tổ chức phát tang phải chờ đến khi hết lễ hội và những người còn thời gian chịu tang bố, mẹ không được vào đình. Tuy nhiên hiện nay những quy định này cũng đã giảm bớt.
Ông chủ tế trong thời gian làm chủ tế không được đến các đám tang
- Hiện nay việc truyền dạy và thực hành di sản trong cộng đồng được thực hiện như sau: Hàng năm đều tổ chức lễ hội truyền thống, các cụ cao niên thường xuyên nhắc lại lai lịch về vị thần được thờ tại di tích để con cháu ghi nhớ, huy động thế hệ thanh niên, trung niên cùng tham gia ban tổ chức lễ hội, tham gia thực hành tổ chức phần lễ và phần hội, để nắm bắt các nghi lễ, tập tục, các trò chơi dân gian, để sau này tiếp tục kế thừa thực hiện nhiệm vụ tổ chức lễ hội.
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan v.v:
- Công tác chuẩn bị:
Từ Rằm tháng Giêng, làng đã tổng hợp danh sách các cháu được tặng quà tuyên dương khuyến học để chuẩn bị trao quà ngày mùng 10 tháng Hai
Trước ngày tổ chức lễ hội 01 ngày. BTC, các cụ và những người ra phục vụ lễ hội làm nhiệm vụ bao sái nội cung, các đồ thờ tự bằng nước thơm, quét dọn xung quanh đình, trang trí cờ Tổ Quốc, cờ thần, cờ trang trí.
- Ngày 10 tháng Hai:
Sáng làm lễ “ Mộc Dục”, BTC và các cụ cùng đội rồng của làng dâng hương tưởng niệm Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại nhà lưu niệm Bác Hồ và đặt vòng hoa tưởng niệm các liệt sỹ của xã, Từ 14h chiều, các trò chơi dân gian được tổ chức với các trò như kéo co, đập niêu, nhảy bao bố v.v
Tối tế “ Nhập Tịch”, làng tổ chức trao quà khuyến học cho các cháu đạt học sinh giỏi và đỗ đại học sau đó giao lưu văn hóa văn nghệ cùng đội văn nghệ của thôn.
- Ngày 11 tháng Hai:
Sáng 7h chùa làng Kim Hoàng, nơi tập trung rước Oản đặt trong Long Đình từ Chùa vào Đình, 8h dân làng dâng hương lên đình. Làng tổ chức tế lễ. Từ 13h chiều các trò chơi dân gian tiếp tục được tổ chức. Năm nào làng được doanh nghiệp tài trợ kinh phí mời đoàn quan họ về hát thì sẽ có hát quan họ.
Tối tế “ Túc Yết” và liên hoan văn nghệ do đoàn thanh niên thôn Kim Hoàng tổ chức
- Ngày 12 tháng Hai:
Buổi tế chính của lễ hội truyền thống làng Kim Hoàng tổ chức hàng năm gọi là “ Lễ Kỳ Phúc”
Bắt đầu vào Tế lễ toàn bộ các cụ ở trong ban hành lễ đứng vào vị trí ở xung quanh sân ngoại (ở giữa dải chiếu, các chiếu dọc dành cho chủ tế lễ, các chiếu ngang để dẫn tế)
Ông chủ tế đầu đội mũ đỏ, mặc áo đỏ, quần trắng, đi hia đứng giữa, một bên là thấy văn, các vị trí đông xướng, tây xướng, đông nội, tây nội, chấp hỏa, bồi tế, chiêng, trống....với nét mặt nghiêm trang. Sau 03 hội chuông, trống(ổn định các vị trí)
Bắt đầu ông Đông ngoại xướng: (chậm theo giọng văn tế)
Câu 1:- "Khởi chính cổ!" 03 hồi chuông, trống (chính thức vào tế lễ).
Câu 2 - Nhạc sinh tựu bị (phường bắt âm đạo nhạc).
Câu 3- "Chấp sự giả cải tư kỳ sự".
Câu 4 - "Quản tấy!"
- Tiếp theo ông Đông nội xưởng:
Câu 5: - "Chủ tế giữ chấp sự các nghệ quan tẩy sở!"
Câu 6: -" Quản tấy!" ( chủ tế xuống bàn Cử Mịch rửa tay)
Câu 7. - "Thuế cản!" (chủ tế lau tay)
Tiếp theo ông Đông ngoại xưởng:
Câu 8. - "Cù soát tế vật!" ( Chủ tế và 2 ông chấp hóa đi bình thường vào cung kiểm tra lễ vật xong quay ra chủ tế đứng cạnh chiếu thứ 3, 2 ông chấp hỏa xuống bàn Cir Mịch)
Câu 9 - "Bồi tế tiêu vị!" (5 ông bồi tế vào chiều 2 ông đứng trên, 3 ông đứng dưới)
Câu 10: - " Chủ tế từu vị!" ( Chủ tế bước vào chiếu 3"
Câu 11: - "Thương hương!"
- Tiếp theo ông Đông nội xướng:
Câu 12: - "Nghệ thương hương vị!" (chủ tế lùi ra khỏi chiếu đứng cạnh. 2 ông Thấy văn và chuyển văn đi xuống bàn Cử Mịch để nhận đài hương quay lại tiến lên phía trước đi lên cùng có 2 ông chấp hỏa, đến chiếu 3 thì dừng lại, quay mặt lại với nhau.
Câu 13: - "Nghệ tôn thần vi tiến!" (Tất cả quay mặt vào nhà Thánh, Chủ tế đi ngang sang bên trải đứng sau ông chấp hỏa từ từ theo lệnh chuông trống có nhạc của phường bắt ẩm đi đến chiều 1. 2 ông chấp hỏa dừng lại, chủ tế vào chiếu).
Câu 14: - “Quị” (chủ tế quỳ)
Câu 15. - "Hiến hương!" (Thấy văn và ông chuyển văn quỷ dâng hương cho chủ tế. Chủ tế đòn đài hương bên phải trước ngắng mặt trước Ấn thu vài ba vài xong trả lại, đón tiếp đài hương bên trái và vải như lần trước)
Câu 16.- "Tiến hương!" ( Chủ tế vẫn quỳ ở chiếu 1 còn thấy văn và ông chuyển văn cùng 2 ông chấp hỏa theo lệnh của chuông trống đi vào cung tới ban ngoài ông chuyển văn đứng chờ thấy văn cắm hương trước sau đó tiếp tục vào cắm hương. Cả 2 đều để đài hương ở đó và quay ra đến chiếu 1 chỗ chủ tế đang quỳ dùng lại quay mặt với nhau)
Câu 17. - "Phủ phục!" (Chủ tế phủ phục)
- Tiếp theo ông Tây ngoại xưởng:
*"Hưng!" (chủ tể đứng dậy)
Câu 18: -" Bình thần phục vị!" (chủ tế lùi khỏi chiếu đi theo ông Đông nội đến
chiếu 3 và tiếp tục vào chiếu 3 quay mặt vào nhà thánh)
Câu 19: -" Nghênh tôn thần cúc cung bải!" (Chủ tế, bởi tế bài 4 lần)
Câu 20: - "Hành sơ hiến lễ!"
- Tiếp theo ông Đông nội xướng:
Câu 21. - "Nghệ tư tôn sở!" (chủ tế lùi ra khỏi chiếu)
Câu 22 - "Từ tôn giả cử mạnh!" ( Chủ tế xuống cử mình)
Câu 23. -" Trước từu" (rót rượu)
Câu 24: -"Phung tước giả phụng tước!" (đây lắp lại và 2 ông chấp hỏa dẫn lên chiếu 3)
Câu 25: - " Nghệ tôn thần vì tiến!" (Tất cả quay mặt vào nhà thành đi theo
lệnh của chuông trống đến chiếu 1 dừng lại, chủ tế vào chiếu)
Câu 26:- Quy (chủ tế quỳ)
Câu 27: - "Hiến tước!" (2 ông đi rượu quỳ dâng rượu cho chủ tế vài, bên phải trước)
Câu 28: - " Tiến tước!" (2 ông đi rượu đứng lên cùng 2 ông chấp hỏa theo lệnh của chuông trống rước vào cung xong quay ra đến chiều 1 dừng lại)
Câu 29: - "Phủ phục!" (chủ tế phủ phục)
Câu 30: -" Bình thân phục vị!" ( Chủ tế ra khỏi chiếu và đi về chiếu 3 chờ)
Tiếp theo ông Đông ngoại xuống.
Câu 31: - "Đọc chúc!"
- Tiếp theo ông Đông nội xưởng:
Câu 32: -" Nghệ đọc chúc vị!" (2 ông chấp hóa đi trước, tiếp theo ông thấy văn, ông chuyển văn, ông Đông nội dẫn chủ tế lên chiểu 1, chủ tế vào chiếu lông chuyển văn bê bảng văn đặt ở ản thư đi lùi xuống lúc đó thầy văn đứng ngang với chủ tế)
Câu 33 -"Quy!" (chủ tế quỳ)
Câu 34 -" Giải quy!" (Thấy văn, chuyển văn, bồi tế cùng quỳ)
Câu 35. -" Chuyển chúc!" (ông chuyển văn hai tay chuyển cho chủ tế. Chủ tế vải 3 với xong chuyển cho thầy văn, thầy văn đón và mở văn)
Câu 36. - " Đọc chúc!" (Thầy văn đọc văn tế, đọc xong chuyển lại cho chủ tế, chủ tế chuyển tiếp cho ông chuyển văn đặt về vị trí cũ xong khỏi chiếu chỉ còn duy nhất chủ tế đứng chờ)
Câu 37: - " Phủ phục!" (chủ tế phủ phục)
Câu 38 " Hưng" (đứng lên)
Câu 39: "Bải!" (lễ) " Hưng!
Câu 40: -"Bái" "Hung!"
Câu 41 - "Bình thần phục vị!" (ra khỏi chiều cùng chấp hỏa..... ra chiếu 3)
- Tiếp theo ông Đông nội xưởng:
Câu 42. " Hành ả tiển lễ" (Như tuần rượu 1 vì đây là tuần 2)
- Tiếp theo ông Đông nội xướng.
Câu 43 " Nghệ tư tôn sử!"
Câu 44:" Tư tôn giả cử mịch!"
Câu 45. "Trước từu!"
Câu 46 : "Phụng tước giả phung tước!"
Câu 47: " Nghệ tôn thần vi tiền!"
Câu 48: Nghệ tôn thần vì tiền!"
Câu 49: - " Hiển Tước!"
Câu 50 - " Tiến Tước!"
Câu 51 - "Bình thân!"
- Tiếp theo ông Đông ngoại xưởng:
Câu 52: " Hành trung hiến lễ!"
- Tiếp theo ông Đông nội xướng
Câu 53: " Nghệ tư tôn sở!" (Như tuần rượu 1 và 2)
Câu 54: "Tư tôn giả cử mịch!"
Câu 55. "Trước tửu!"
Câu 56: " Phụng tước giả phụng tước!"
Câu 57: " Nghệ tôn thần vì tiến!"
Câu 58: "Quy!"
Câu 59: "Hiến tước!"
Câu 60. " Tiến tước!"
Câu 61: "Phủ phục!" "Hưng!"
Câu 62: " Bình thân phục vị!"
- Tiếp theo ông Đông ngoại xưởng:
Câu 63: " Ẩm phước!"
- Tiếp theo ông đông nội xướng:
Câu 64: "Nghệ ẩm phước vị!" ( Chủ tế cùng ông đông nói và tây n chiếu 2)
Câu 65: "Quy!" (chủ tế quỳ)
Câu 66:" Âm phước!" (Chủ tế đón chén rượu từ cụ Từ, từ từ uống chén xuống)
Câu 67: " Phủ phục!".. "Hung!"
Câu 68: "Bái!". "Hung!"
"Hung!" Câu 69. "Bải!".
Câu 70: "Bình thần phục vị!" ( đứng lên và đi ra chiếu 3)
- Tiếp theo ông Đông ngoại xướng:
Câu 71: "Tạ tôn thần cúc cung bải!"
"Bai!". "Hưng!" (4 lần)
Chủ tế và 5 ông bồi tế cúng bái
Câu 72: "Bình thân phần chúc!"( ông thầy văn, ông chuyển văn lên chiểu 1; ông chuyển văn bải xong lấy bài văn tế chuyển cho ông thầy văn HÓA)
Câu 73: "Lễ tất!" (tất cả cùng lễ, riêng 5 ông bồi tế không phải lễ
- Các trò chơi dân gian: Kéo co, đập niêu, bắt vịt dưới nước
- Các hoạt động khác: Biểu diễn văn nghệ quần chúng, hát Quan họ.
- Các đồ thờ sử dụng trong Lễ hội: bát hương, ngai, bát bửu, đèn, lư, đỉnh, án thư, hạc …
- Các đồ rước trong Lễ hội: kiệu bát cống, lân, rồng
- Lễ vật: rượu, xôi, thịt lợn, thịt gà, hương, hoa, trầu quả, quả
- Trang phục: Trang phục tế, áo the khăn xếp