Lễ hội truyền thống làng Phương Bảng
Nội dung bài viết
Câu chuyện điểm đến
01a. Quá trình ra đời, tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể
Lễ hội có từ xa xưa. Theo các tư liệu Hán Nôm hiện lưu tại di tích, theo văn bia ở Quán Giá mà nhiều công trình nghiên cứu đã công bố thì đình và quán Phương Bảng thờ tướng công Lý Phục Man, có sự tích như sau: “Xưa kia đức đại vương vốn là người thuở trẻ anh hùng cái thế, tài nghệ hơn người, cưỡi ngựa rất tài, bắn cung càng giỏi, lại biết thuần phục voi rừng. Ngài theo Lý Nam Đế, Lý Nam Đế thấy ngài có khí phách hiên ngang, thật xứng đáng là bậc trượng phu, có thể giúp nước đảm đang công việc, do vậy cho giúp việc quân, sai ra trấn giữ Đỗ Đồng, Đường Lâm. Khi ngài đưa ra hiệu lệnh thì bọn gian ngoan đều khiếp sợ. Dân địa phương được sống yên ổn, khắp trong vùng đều được yên vui, tất cả giả trẻ đều được đội ơn đức của ngài nhiều lắm.
Đến khi người Lâm Ấp vào xâm lấn đất Cửu Đức biên thư cấp báo, triều đình họp bàn mọi người đều nói rằng: “Không có tướng công Đỗ Đồng thì không dẹp xong giặc này”. Thế là nhà vua bèn ban chiếu chỉ, cử ngài làm thống tướng cai quản các đạo quân đi đánh giặc. Ngày đó, quân ta đánh bại Lâm Ấp ở quận Cửu Đức. Tin thắng trận báo về, nhà vua tán thưởng hồi lâu rồi nói với quan thị thần rằng: “có gặp cây cứng gốc rắn mới biết được dao sắc. Nay tướng quân Đỗ Đồng bắn mấy phát tên mà phá tan giặc dữ, quả là bậc hào kiệt đất Sơn Tây. Các tướng giỏi giữ nước ngày xưa cũng không thể hơn được. Do vậy không thể không khen thưởng”.
Thế rồi ngài có nhiều công hàng phục người Man, nên ban cho ngài tên là Phục Man, lại ban cho theo họ Lý, gả công chúa rồi cho thăng hẳn lên làm chức Thiếu uý, cho tham bàn công việc ở Tướng phủ. Đối với trăm quan phê phán trước mặt, chẳng hề giấu lỗi lầm cho ai. Đàn hặc cả kẻ quyền thần, không hề bỏ sót. Mọi người không dám đến kêu xin riêng tư điều gì, tiếng khen đồn khắp, trong ngoài trấn đều gọi là Tướng công Phục Man và bày tỏ tấm lòng kính mộ đức độ của Ngài.
Về sau vua Lý Thái Tổ đi bái yết núi sông, thuỷ quân của triều đình đến nghỉ tại bến làng ta. Ngài dưới thuyền rồng ngước lên thấy núi sông kỳ vĩ, nhà vua chợt thấy tâm thần rung động, bèn đem rượu ra dâng lên rồi nói rằng: “Trẫm thấy núi non ở đây kỳ tú, nếu quả có bậc nhân kiệt ở đất thiêng này thì xin mời đến hâm hưởng. ”
Đêm hôm ấy, nhà vua nằm mơ thấy một người thân hịnh cao lớn đi bộ đến trước mặt thuyền nhà vua rồi nói rằng: “Thần vốn là người ở thôn đây, họ Lý tên là Phục Man, thời vua Lý Nam Đế, nổi tiếng là người trung liệt. Được vua cho giữ đất Đỗ Đồng, Đường Lâm, đã giữ yên biên thành, làm đủ công việc của triều đình. Bọn dân man di không dám xâm phạm bờ cõi. Sau khi chết, Thượng đế khen là trung trực, nên ban cho sắc phong giữ chức vụ như cũ. Thần giữ chức vụ ở đây trông nom đánh phá giặc giữ làm cho dân địa phương được sống yên ổn, nay may mắn gặp được nhà vua thương mến. ”
Tiếp đó Ngài lại thong thả nói: “Trong thiên hạ gặp lúc tối tăm, các bậc trung thần đều ẩn dấu tên họ. Nay đôi vầng nhật nguyệt toả sáng giữa trời, ai mà không muốn hiện rõ thế hình”.
Nhà vua giật mình tỉnh giấc, liền đem chuyện mộng mị này nói cho quan ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn rằng: “Vị thần này muốn hiển hiện hình tượng nên nói như vậy”. Sau đó nhà vua liền sai quần thần mang vàng bạc đến bảo người trong châu ấp, lập đền thờ phụng, lại cho tạo tượng, tất cả đều giống y như trong giấc mộng, rồi phong làm phúc thần thượng đẳng, cho dân thờ phụng quanh năm.
Đến khoảng niên hiệu nguyên phong nhà Trần, có giặc Thát Đát vào xâm lấn bờ cõi, khi đến vùng Cổ Sở ngựa bị què, chân không sao tiến được nữa. Người trong thôn dẫn quân ra đánh, bọn giặc chạy tan tác.
Đến khoảng thời Trung Hưng, quân Nguyên lại đem quân đến xâm lấn. Quân giặc đi đến đâu đốt phá đến đấy, nhưng riêng vùng đất này thì như được chở che giữ gìn, bọn giặc không dám xâm phạm, dân cư được yên ổn. Về sau triều đình ban cho mĩ hiệu để biểu dương công tích của Ngài.
Từ đó về sau, nước nhà hễ gặp hạn hán đến đền thờ cầu đảo thì đều có mưa ngay. Do vậy triều đình lại ban thêm mĩ tự để biểu dương sự anh linh của ngài. Ngay cả những việc sĩ tử đi thi, chiến binh đi hành dịch, dân nông cấy ruộng nuôi tằm, hễ ai đến cầu đảo đều thấy linh ứng. Vì thế mà dân chúng càng thêm kính tín và khói hương còn mãi không bao giờ dứt.
* Các sắc phong:
1. Vua Minh Mạng 21. 7. 1821
2. Vua Thiên Trị 11. 7. 1844
3. Vua Thiên Trị 12. 8. 1844
4. Vua Tự Đức 20. 11. 1850
5. Vua Tự Đức 24. 11. 1880
6. Vua Đồng Khánh 01. 7. 1887
7. Vua Duy Tân 11. 8. 1909
8. Vua Khải Định 25. 7. 1924
9. Vua Bảo Đại 15. 8. 1940
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan v. v:
- Hội chính: 05 năm tổ chức một lần. Lễ hội diễn ra vào các ngày từ mùng 10 đến 12 tháng 3 âm lịch hàng năm.
- Hội lệ: Được tổ chức thường xuyên hằng năm, nhưng không tổ chức rước.
- Trong lễ hội tổ chức rước lễ vật lên Đền Thượng (Quán Giá) làm lễ thánh vào sáng 10 tháng 3 âm lịch là nơi thờ chính Thờ tướng quân Lý Phục Man sau đó về làm lễ dâng hương tại quán làng.
* Ngày 10/3 âm lịch:
Sáng: Cụ chủ tế cùng các cụ quan viên và anh em hàng đô tổ chức rước hương đãng hoa quả và lễ vật lên đền thượng (quán Giá, xã Dương Hoà) làm lễ thánh. Sau đó về tổ chức lễ khai mạc, lễ dâng hương hoa và làm lễ thánh tại Quán làng.
Chiều: Tố chức các trò chơi dân gian.
Tối: Tổ chức văn nghệ quần chúng.
* Ngày: 11/3 âm lịch:
Sáng: Tổ chức làm lễ tại đình và quán, nhân dân và khách thập phương đến lễ đình, quán.
Chiều: Tổ chức lễ rước (hội chính, hội lệ không rước) sang chùa Hưng Long lĩnh văn về quán và tổ chức tế lễ tại quán làng.
* Tổ chức các trò chơi dân gian.
Quy trình tổ chức rước kiệu:
Nghi thức tổ chức rước kiệu: Kiệu được rước từ quán sang chùa làm lễ và tổ chức rước văn từ chùa về quán, sau tổ chức tế lễ tại quán làng, thứ tự rước như sau:
Đi đầu là cờ: Do anh em hàng đô rước mặc áo đô màu đỏ, mặc quần trắng, lưng thắt đai vàng.
Ngày xưa rước thành 02 hàng cờ ngũ phương và cờ thần.
Ngày nay đi đầu là cờ Tổ Quốc, tiếp sau là 02 hàng cờ ngũ phương và cờ thần.
Vũ khí: Hai hàng đô rước gồm: Gươm, đao, roi, bát bửu. ..
Ông Mã: 01 lọng
Trống + chiêng (phường bát âm nếu có)
Thất sự:
02 tán tầu
án gian + 02 lọng
02 tán tàu
Long đình + 2 quạt có (đi trước long đình là 01 cụ quan viên mặc quần áo tế. .. tay cầm trống khẩu chỉ huy)
02 quạt ngà (do 02 cụ quan viên mặc quần áo tế. .. vác quạt)
Kiệu văn + 02 quạt cò (đi trước kiệu là 01 cụ quan viên có uy tín trong làng mặc trang phục áo đỏ rộng tay thụng, đầu đội khăn xếp đỏ, tay cầm trống khẩu chỉ huy)
kiệu cả + 02 quạt cò (đi trước là 01 cụ quan viên cầm trống khẩu chỉ huy), tiếp theo là cụ Chủ tế cùng các cụ quan viên mặc quần áo tế, đội mũ tế.
+ Đi giữa là cụ Chủ tế.
+ Tiếp theo là 4 ông Chạ cùng các cụ quan viên bổi tế đi thành 02 hàng.
Phía sau là các cụ cao niên và nhân dân trong làng cùng khách thập phương về dự lễ hội.
Quy trình tế lễ: (gồm dâng hương+ dâng rượu + đọc chúc + dâng rượu + dâng rượu + trần nước)
Trống + Chiêng nổi lên 03 hồi, 03 tiếng.
Nhạc công khởi tác: Nhạc tế, dàn nhạc nổi lên.
Thị lập Tứu vị: Hai hàng đô đứng 02 bên hướng vào chiều.
Chủ soát tế vật: Chủ tế cùng 02 ông đăng kiểm soát tế vật xem đã đầy đủ chưa.
Uế Mao Huyết: Ông Từ mang chậu + khăn lau đầu Gà, sủ Lợn để đảm bảo nghi lễ.
Các nghệ quan Tẩy Sớ: Trống Tùng, cụ Chủ tế và các quan viên đi ra Tẩy Sớ (tức tẩy uế).
Quan Tẩy: Trống tùng
Cụ chủ và các quan viên bắt đầu tẩy.
Thế câu: Trống tùng
Cụ chủ tế đi ra đứng ở bên ngoài góc chiếu vi.
04 ông chạ đứng ở bên ngoài góc dưới của chiếu trạ
Các quan viên còn lại đi về vị trí của mình
Bồi tế tửu vị: Trống tùng
Bốn ông chạ bước vào chiếu.
Chủ tế quan tửu vị: Trống tùng
Chủ tế bước vào chiếu vị
11. Thượng hương: Trống tùng
Hai ông đăng ra đứng bên ngoài góc trên chiếu vị.
Ông thượng hương bê lư hương đứng bên đông chân trái bước vào chiếu hai tay chuyển lư hương cho cụ chủ tế sau lùi ra đứng chờ.
Chủ tế dâng lư hương lên vái 01 vái rồi chuyển lư hương lại cho ông Thượng hương.
Ông thượng hương tiếp tục bước chân trái vào góc chiếu vị đón lư hương rồi lùi ra cùng với 02 ông đăng xoay gót hướng vào trong đền bước theo nhịp trống và chiêng bước vào trong đền.
Ông các rượu đón lư hương đặt lên bàn thờ.
02 ông đăng và ông thượng hương trở ra bình thường.
Lễ nghinh thượng đẳng thần cúc cung bái: Trống tùng.
Chủ tế và 04 ông chạ lễ 4 lễ theo hiệu lệnh của ông Đông xướng và ông Tây xướng, theo trống chiêng.
Bình thân: Trống tùng
Chú tế và 04 ông chạ đứng tại chỗ
Hành sở hiếu lễ nghệ tửu tôn sớ: Trống tùng
Chủ tế và ông tư văn chuẩn bị
Tửu tôn ra cự mịch
Chủ tế vái 01 vái rồi lùi xuống đi ra bàn mịch
Ông tư văn đi ra bàn mịch mở vải che đài và nắp đài, cầm be rượu mở nút hai tay đưa cho Chủ tế.
Trước tửu: Trống tùng
Chủ tế dâng be rượu lên ván 1 vái rồi quay sang bàn mịch các rượu vào 3 đài rồi quay ra hướng về chiếu trên.
Ông Tư văn đậy be rượu và nắp đài lại rồi lùi về vị trí.
17. Nghệ thượng đẳng thần vi tiền: Trống tùng
Hai ông đăng đi lên đứng ở bên ngoài góc trên chiếu đầu.
Chủ tế đi vào chiếu đầu
3 ông đài đi ra nhận đài và đi lên đứng ở bên ngoài góc dưới của 03 chiếu.
18. Quì: Trống tùng
ông đài đầu xoay gót chân trái bước vào chiếu vuông góc quỳ xuống, hai tay chuyển đài cho chủ tế rồi đứng dậy lùi ra đứng chờ.
Hiến tước:
Chủ tế dâng đài lên vái 01 vái rồi chuyển trả lại cho ông đài đầu.
ông đài đâu xoay gót bước chân trái vào góc chiếu quỳ xuống đón lấy đài rồi lùi ra ngoài góc chiếu.
Tiến tước: Trống tùng
Hai ông đăng và 03 ông đài xoay gót quay hướng vào trong đền và bước theo nhịp trống và chiêng tiến vào trong đền.
Ông các rượu đón rượu và các rượu vào 03 chén trên bàn thờ theo thứ tự.
Phủ phục: Trống tùng
Chủ tế phục xuống rồi đứng dậy
Bình thân: Trống tùng
Chủ tế đứng tại chỗ
Phục vị: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi lùi xuống quay ra đi về chiếu vị.
Đọc chúc nghệ - đọc chúc vị: Trống tùng
02 ông đăng đi ra đứng ở bên ngoài góc trên chiếu chúc
Chủ tế vái 01 vái lùi xuống quay ra đi lên vào chiếu chúc
Ông tư văn đi sang bên Tây xướng cùng với chủ tế vào chiếu chúc.
Giai quy: Trống tùng
Chủ tế, ông tư văn và 04 ông chạ vái 01 vái quỳ xuống.
Chuyển chúc:
Ông chuyển chúc bê chúc đi sang bên Đông xướng ở góc dưới bên ngoài chiếu chúc, xoay gót chân trái bước vào chiếu quỳ xuống chuyển chúc vào cho chủ tế và lật vải che lên rồi đứng dậy đi về vị trí.
Chủ tế dâng chúc lên vái 01 vái rồi chuyển chúc cho ông tư văn.
Đọc chúc vị: Trống tùng
Ông tư văn dâng chức lên vái 01 vái rồi đọc, khi đọc chúc xong trống đánh 2 tiếng: Tùng, tùng.
Ông chuyển chúc đến bên ngoài góc dưới chiếu phía Tây xoay gót bước chân phải vào chiếu vuông góc quỳ xuống hai tay đón chúc rồi đứng dậy lùi ra cùng với 02 ông đăng xoay gót hướng vào trong đền dâng đăng dâng chúc tiến vào trong đền theo nhịp trống và chiêng.
Ông các rượu đón chúc đặt lên bàn thờ ở góc bên phải.
Phủ phục: Trống tùng
Chủ tế, ông tư văn và 04 ông chạ cùng phục xuống rồi đứng dậy.
Ông tư văn vái 01 vái rồi ra
Chủ tế và 4 ông chạ lễ tiếp 02 lễ.
Theo hiệu lệnh, theo ông Đông và Tây xướng và nhịp trống chiêng
Bình thân: Trống tùng
Chủ tế và 4 ông chạ đứng tại chỗ
Phục vị: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái lùi xuống quay ra và đi về chiếu vị
Hành á hiến lễ nghệ tưu tôn sớ: Trống tùng
Chủ tế và ông tư văn chuẩn bị
Tửu tôn ra cư mịch: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái, rồi lui xuống đi ra bàn mịch
Ông tư văn đi ra bàn mịch mở vải che đài và mở nắp đài, cầm be rượu mở nắp, hai tay cầm be đưa cho chủ tế.
Trước tửu: Trống tùng
Chủ tế dâng be rượu lên vái 01 vái rồi quay sang bàn mịch các rượu vào 03 đài xong đặt be rượu xuống bàn mịch rồi quay trở ra hướng lên chiếu trên.
Ông tư văn đậy be rượu và nắp đài rồi lui về.
Nghệ thượng đẳng thần vi tiền: Trống tùng
Hai ông đăng đi lên đứng ở bên ngoài góc dưới chiếu đầu
Chủ tế đi lên chiếu đầu, vào chiếu đầu
03 ông đài ra nhận đài rồi đi lên đứng ở góc dưới theo thứ tự của 03 chiếu.
Quỵ: Trống tùng
Chủ tế: Vái 01 vái rồi quỳ xuống chỉnh trang áo mũ
Ông đài đầu xoay gót chân trái bước vào chiếu vuông góc, quỳ xuống hai tay chuyển đài cho chủ tế rồi đứng dậy lùi ra ngoài góc chiếu.
Hiến tước: Trống tùng
Chủ tế dâng đài lên vái 01 vái rồi chuyển ra trả lại ông đài đầu.
Ông đài đầu bước chân phải sang 01 bước, xoay gót chân trái bước vào chiếu vuông góc quỳ xuống hai tay đón lấy đài rồi đứng dậy lùi ra góc chiếu ngồi chờ.
37. Tiến tước: Trống tùng
Hai ông đăng và 03 ông đài xoay gót chân hướng vào trong đền và từ từ tiến đăng và đài vào đền theo nhịp trống và chiêng.
Ông các rượu ra đón đài rượu và các rượu vào 03 chén ở trên bàn thờ theo thứ tự.
Hai ông đài và 03 ông đăng trở ra bình thường về vị trí
Phủ phục: Trống tùng
Chủ tế phục xuống rồi đứng dậy
Bình thân: Trống tùng
Chủ tế đứng tại chỗ
Phục vị: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi lùi xuống đi ra về chiếu vị
Hành chung hiếu lễ nghệ tửu tôn sớ: Trống tùng
Chủ tế và ông tư văn chuẩn bị
Tửu tôn ra cư mịch: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi lùi xuống đi ra bàn mịch
Ông tư văn đi ra bàn mịch, mở vải che đài cầm be rượu mở nút hai tay đưa cho chủ tế rồi lùi ra đứng bên cạnh.
Trước tửu: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi quỳ xuống chỉnh trang mũ áo.
Ông đài đầu chuyển đài vào cho chủ tế rồi đứng dậy chờ.
Hiến tước:
Chủ tế dâng đài lên vái 01 vái xong chuyển trả ông đài.
Ông đài đầu nhận đài rồi đứng dậy lùi ra chờ.
Tiến tước: Trống tùng
02 ông đăng và 03 ông đài cùng xoay gót chân hướng vào trong đền từ từ tiến đăng và đài vào đền theo nhịp trống và chiêng.
Ông các rượu đón rượu rồi các vào 03 chén ở trên đài theo thứ tự.
02 ông đài và 03 ông đăng đi ra bình thường
Phủ phục: Trống tùng
Chủ tế phục xuống rồi đứng dậy
Bình thân: Trống tùng
Chủ tế đứng tại chỗ
Phục vị: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi lùi xuống đi ra về chiếu vị
Ầm phúc nghệ ẩm phúc vị: Trống tùng
02 ông đăng đi ra đứng ở bên ngoài góc trên ở chiếu giữa.
Ông Thủ tộ đi vào trong đền mang khay tộ ta đứng ở bên ngoài góc chiếu của chiếu giữa bên Tây.
Quỳ: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi quỳ xuống chỉnh trang áo mũ.
Ông Thủ tộ chân trái bước sang bên 01 bước, xoay gót chân, chân phải bước vào chiếu vuông góc quỵ xuống, mở tộ hai tay chuyển khay tộ cho chủ tế rồi đứng dậy lùi ra chờ.
Âm Phúc: Trống tùng
Chủ tế dâng khay tộ lên vái 01 vái
Thủ tộ: Trống tùng
Chủ tế dâng khay tộ lên vái 01 vái rồi chuyển khay tộ sang cho ông thủ tộ.
Ông Thủ tộ lại quỳ xuống: Hai tay đón khay tộ
Chủ tế che tay để ăn trầu, uống nước
Ông Thủ tộ thống xong đậy tộ lại rồi bung khay tộ đứng dậy về vị trí
Phủ phục: Trống tùng
Chủ tế phục xuống rồi đứng dậy và lễ tiếp 02 lễ theo hiệu lệnh của ông Đông xướng và Tây xướng theo nhịp trống, chiêng.
Bình Thân: Trống tùng
Chủ tế đứng tại chỗ
57. Phục vị: Trống tùng
Chủ tế vái 01 vái rồi lùi xuống đi ra về chiếu vị
Lễ từ thượng đẳng thần cúc cung bái: Trống tùng
Chủ tế và 04 ông chạ lễ 04 lễ theo hiệu lệnh của ông Đông xướng và ông Tây xướng theo trống và chiêng.
Bình thân: Trống tùng
Chủ tế và 4 ông chạ đứng tại chỗ
Thuần chúc: Trống tùng
Ông tư văn và 02 ông đăng đi vào trong đền hoá chúc
Lễ Tất:
Chủ tế và 04 ông chạ vái 01 vái rồi bước ra chiếu ngoài đứng trực lễ
Các ông quan viên còn lại bước chân vào chiếu lễ 04 lễ theo hiệu lệnh chống và chiêng.
Tối: Tổ chức văn nghệ quần chúng
*Ngày 12/3 âm lịch: Tổng kết công tác lễ hội, công khai tài chính.
Ban hành lễ làm lễ yên vị (không tế)
Ban tổ chức tổng kết lễ hội - công khai tài chính.
- Các trò chơi dân gian: Kéo co, đập niêu, bắt vịt dưới nước
- Các hoạt động khác: Biểu diễn văn nghệ quần chúng, hát Quan họ.
- Các đồ thờ sử dụng trong Lễ hội: bát hương, ngai, bát bửu, đèn, lư, đỉnh, án thư, hạc …
- Các đồ rước trong Lễ hội: kiệu bát cống, lân, rồng
- Lễ vật: rượu, xôi, thịt lợn, thịt gà, hương, hoa, trầu quả, quả
- Trang phục: Trang phục tế, áo the khăn xếp.



