Lễ hội truyền thống làng Thượng Lao (đình An Thượng)
Giới thiệu
Lễ hội có từ xa xưa, theo các cụ cao niên trong làng thì thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hội không được tổ chức, song vào những ngày này, dân làng vẫn thắp hương, làm lễ. Từ năm 1975 - 1976, hội được khôi phục cho tới ngày nay. Theo quy ước của làng năm 1993 sửa đổi bổ xung năm 2024, cứ 03 - 05 năm tổ chức lễ hội một lần, còn các năm khác Làng tổ chức lễ dâng hương tại đình. Lễ hội diễn ra trong 03 ngày mồng 8, 9, 10 tháng Ba (âm lịch).
Ban tổ chức lễ hội gồm Trưởng thôn, Bí thư, Trưởng Ban công tác mặt trận và các ban ngành đoàn thể trong thôn. Chi hội người cao tuổi và các vị trưởng lão trong làng là những người đóng vai trò chính trong lễ hội.
Hội làng Thượng Lao được tổ chức để tưởng nhớ Tứ Vị Đại Vương 四 位 大 王 : gồm Hiển Công Đại vương, Sý Công Đại vương, Lân Công Đại vương, Đức Vương mẫu tức Bảo Hoa công chúa. Thành hoàng của làng là Hiển Công Đại vương, còn 03 vị thần kia được thờ ở ba nơi khác nhau, song đều được phối thờ ở đây, do long ngai bài vị của ba vị đều được đặt ở đình.
Ngoài hội chính vào 03 ngày 8, 9, 10 tháng Ba, ở đình làng còn tổ chức các ngày tế lễ khác nhau: rằm tháng hai (tổ chức khai quang tẩy uế); ngày mùng 6/6 (tế xuống đồng); 12/8 (việc làng); 12 tháng Chạp (ngày hóa của Ngài).
Đình làng An Thượng: nơi tổ chức lễ hội thờ Thánh hiền hiển ứng linh thông đại vương;
Quán Hàm Rồng: thờ Quang minh sý thịnh hộ quốc đại vương (thờ Đức Thánh Nhì);
Quán Kiều: thờ Lân cầu án sát hùng tài đại lược đại vương (thờ Đức Thánh Ba);
Đền (quán) Bà: thờ bà Bảo Hoa Nương chinh thúc công chúa đại vương.
Thần phả: 01 quyền; 25 đạo sắc phong gồm:
- Sắc Phong thờ Đức vương mẫu Bảo Hoa nương chinh thúc công chúa đại vương, tại Quán Bà, gồm 10 đạo sắc như sau đây: thời Cảnh Hưng năm thứ 4 (1795); thời Quang Trung năm thứ 5 (1792); thời Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783); thời Khải Định năm thứ 9 (1924); thời Tự Đức năm thứ 33 (1879) ; thời Duy Tân năm thứ 3 (1909) ; thời Thiệu Trị năm thứ 6 (1846) ; thời Đồng Khánh năm thứ 2 (1886) ; thời Thiệu Trị năm thứ 6 (1846); thời Tự Đức năm thứ 3 (1849).
- Sắc Phong thờ Đức thánh Cả, Thánh hiền hiển ứng linh thông đại vương, tại Đình làng gồm 5 đạo sắc như sau đây: thời Cảnh Thịnh năm thứ 4 (1795) ; thời Quang Trung năm thứ 5 (1792) ; thời Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783) ; thời Thành Thái năm đầu (1889) ; thời Khải Định năm thứ 9 (1924).
- Sắc Phong thờ Đức thánh Hai, Quanh minh Sý Thịnh Hộ Quốc Đại vương, tại đền hàm rồng nay gọi là Quán chợ rồng gồm 6 đạo sắc như sau đây: thời Duy tân năm thứ 3 (1909); thời Khải Định năm thứ 9 (1924); thời Cảnh Thịnh năm thứ 4 (1795); thời Quang Trung năm thứ 5 (1792); thời Thành Thái năm đầu (1889); thời Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783).
- Sắc Phong thờ Đức Thánh Ba, Lân Cầu Án Sát Hùng tài Đại lược Đại vương, tại Hà sơn kiều tức Quán kiều ngày nay, gồm 4 đạo sắc như sau đây: thời Cảnh Thịnh năm thứ 4 ( 1795 ); thời Thành Thái năm đầu (1889); thời Quang Trung năm thứ 5 (1792); thời Khải Định năm thứ 9 (1924) .
Hiện tại sắc phong được gìn giữ bảo vệ rất tốt, về mặt tâm linh rất ý nghĩa với dân thôn .
Lễ hội có những kiêng kị, hèm như: những người tham gia rước kiệu phải là trai chưa vợ, gái chưa chồng. Gia đình có tang không được tham gia vào công việc của đình, cũng như không được lên đình làm lễ.
Làng kiêng không đặt tên con trùng với tên húy của các vị Thành hoàng làng.
- Chuẩn bị Hội: khoảng rằm tháng hai, chính quyền địa phương tiến hành họp quân dân chính, gồm có trưởng các ban, ngành của thôn; Ban quản lý di tích. Mùng 01 tháng Ba, tiến hành họp phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân phụ trách.
- Mùng 4 tháng Ba: quân kiệu, quân cờ, đội sinh tiền tập duyệt tại sân đình.
- Mùng 5 tháng Ba: các cụ trong Ban quản lý di tích tiến hành làm lễ để bao sái đồ thờ, xin lắp kiệu và mang kiệu ra để lau rửa. Kiệu được lau bằng nước giếng pha ngũ vị. Ngoài các cụ ông thì các cụ bà (chủ già) tắm rửa sạch sẽ cũng được ra đình bao sái và phân công các nam thanh, nữ tú quét dọn sạch sẽ nơi đình làng và các quán sở, đường xá nơi tổ chức lễ hội, để thêm phần sạch sẽ trang nghiêm khi rước thánh đi tuần du.
- Mùng 8 tháng Ba:
+ Buổi sáng: quân kiệu tập rước để chuẩn bị cho buổi chiều rước thật.
+ Buổi chiều: tổ chức lễ rước nghiềm. Đoàn rước đi từ đình, đi đầu là kiệu ảnh Bác, tiếp đến là kiệu hoa rước cỗ chay, sau đó là kiệu bát cống rước ngai của Đức Vương mẫu xuống đền thờ Bà để trình báo. Sau đó, đoàn rước xuống đền Đức Thánh Ba và quay trở lại đình. Tại những nơi đó, các cụ chỉ tiến hành lễ, không tế.
- Ngày mùng 9 tháng Ba:
+ Buổi sáng: tổ chức rước kiệu, đoàn rước xuất phát từ đình ra đền Đức Thánh Hai. Đi đầu là kiệu rước ảnh Bác, tiếp đến là kiệu rước hoa rước lễ, sau đó là kiệu bát cống rước sắc. tại đây các cụ ông tiến hành tế lễ.
+ Buổi chiều: các cụ bà làm lễ tạ, sau đó rước hồi cung.
Đội tế nam gồm 17 người (từ 60 tuổi trở lên): 01 chủ tế, 01 đông xướng, 01 tây xướng, 03 bồi tế, 01 phủ mịch (mở đài), 06 chấp sự, 02 củ soát, 02 đón lễ.
Đội dâng hương gồm 24 cụ bà từ 50 đến 60 tuổi trở lên.
Đội rước kiệu: gồm kiệu bát cồng gồm 16 người là trai đinh trong làng; kiệu rước ảnh Bác, kiệu rước lễ, kiệu tư: gồm 16 người là nữ giới, chưa chồng.
Đồ thờ: ban thờ, long ngai bài vị, bát hương, cây nến.
Lễ vật: thủ lợn, xôi gà, oản quả, hương hoa, trầu cau, rượu
Đồ cúng: xôi gà, oản quả, hương đăng.
Đồ rước: kiệu long đình, kiệu mẫu, kiệu bát cống, bát bửu, bát tiên.
Trang phục: chủ tế mũ đỏ, áo đỏ, hia đỏ. Đông xướng, tây xướng, bồi tế: mũ xanh, áo xanh, quần trắng, hia xanh.
Nhạc cụ: trống, kèn, thanh la, tù và…..
Các trò chơi dân gian trong những ngày lễ hội gồm: bắt vịt, pháo cần, đạp niêu, chọi gà, cờ người.
Trước đây lễ hội chủ yếu do Lý trưởng, tiên chỉ và các cụ cao niên trong làng bàn bạc và đứng ra tổ chức. Ngày nay, việc tổ chức hội làng do ông trưởng thôn cùng toàn thể dân làng bàn bạc, thống nhất và có kế hoạch, nội dung chương trình, thời gian và cam kết đảm bảo tổ chức lễ hội đúng quy định của làng và phù hợp với quy định của pháo luật
Các lễ vật trong ngày hội hiện nay đơn giản hơn, không cầu kỳ như trước.
Có xuất hiện thêm phần lễ dâng hương của các cụ nữ.



