Lễ hội truyền thống làng Tiền Lệ
Giới thiệu
a. Quá trình ra đời, tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể:
Lễ hội có từ xa xưa. Theo các tư liệu Hán Nôm hiện lưu tại di tích, theo văn bia ở đình Tiền Lệ (có tên gọi khác là đình Sặt). Lễ hội truyền thống làng Tiền Lệ được tổ chức long trọng tại các di tích làng Tiền Lệ, chính tiệc vào ngày 12 tháng 3 âm lịch hàng năm, làng tổ chức rước kiệu linh đình từ đền Thượng (Quán Thượng) và đền Hạ (Quán Nước) về đình làng.
Quán Thượng (đền Thượng) được lập dựng để thờ đức thánh thờ chung miếu An Sở - Đức Thượng đẳng thần - Gia Thông Lý Minh ứng đại vương - vị tướng của Triều đại Lý Nam Đế, nhà nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI và vợ là Lý Nương đại vương; phối thờ vị thần Á Nương đại vương đã có công âm phù bảo vệ cho cuộc sống nhân dân trong vùng.
Thần tích Gia Thông Đại Vương soạn vào năm Gia Long thứ ba và "Tiền Nam Đế sự tích quốc âm", kể: Lý Phục Man vốn người hương Cổ Sở. Ngay từ thuở thiếu thời Ngài đã có tư chất anh hùng cái thế, tài nghệ tuyệt vời, cưỡi ngựa bắn cung rất giỏi lại có khả năng thuần trị được voi. Lớn lên theo Lý Nam Đế lập nhiều kỳ công chiến tích, đã trấn trị được cả vùng Đỗ Động - Đường Lâm là nơi xa xôi hiểm trở khó bề cai trị. Ngài đã thao lược binh sĩ, quét sạch đạo tặc khiến dân chúng trong vùng rất mực tôn kính. Khi quân Lâm ấp chiếm Cửu Đức, nhà vua tuyên chế Ngài làm tổng soái chư tướng đi đánh dẹp, chỉ trong một trận Ngài đã phá được quân Lâm Ấp. Tin thắng trận truyền về, nhà vua đã khen Ngài "Thực là bậc hào kiệt của Sơn Tây, cho nên không thể không trọng thưởng". Bèn triệu Phục Man về biểu dương công lao rồi ban cho Phục Man mang họ Lý và gả con gái cho, sau lại thăng lên hàm Thiếu úy và hết lòng sủng ái Ngài. Vua Nam Đế rất chú tâm vào việc biên cương nên sai Lý Phục Man đi trấn giữ vùng biên cương Cửu Đức. Năm Ất Sửu niên hiệu Thiên Đức thứ 2(năm 545), nhà Lương sai Trần Bá Tiên sang xâm lược Vạn Xuân. Quân của Lý Nam Đế bị thua ở Chu Diên và Gia Ninh lão tướng Phạm Tu cùng với Tinh Thiều bị tử trận, khiến vua Lý Nam Đế phải chạy vào động Khuất Liêu. Lý Phục Man nghe tin bèn sai gia tướng củng cố doanh đồn nơi trọng yếu ý định sẽ chia quân ra bắc. Nhưng đã bị quân Lâm Ấp bất ngờ tấn công vào giữa đêm khuya. Trước tình hình ấy, Ngài cùng gia tướng đột phá vòng vây, quân địch thừa thắng truy đuổi ráo riết. Vừa thiếu lương thực lại vừa không có viện binh, cùng kế Ngài đã tự sát để khỏi rơi vào tay giặc. Các gia tướng đã đưa thi hài ông về quê hương Cổ Sở (Yên Sở ngày nay) an táng cạnh hồ Mã Tân ven sông. Dân làng thương tiếc đã lập đền thờ, tôn Lý Phục Man làm Thành hoàng làng. Các truyền thuyết về ông từ thời Lý Thái Tổ về sau cũng giống như trong Việt Điện U Linh Tập.
Là một trung thần có nhiều công lao, nên khi mất, Ngài được nhân dân nhiều nơi tôn thờ làm Thành hoàng làng. Làng Tiền Lệ lập đền thờ (nay gọi là Quán Thượng) trên bến Thượng đầu làng bờ tả sông Hát (nay là sông Đáy) giáp ranh với địa phận làng Giá xưa, làng suy tôn Ngài là “Đương cảnh Thành hoàng làng”, được các triều đại phong kiến phong mỹ hiệu “Thượng Đẳng Thần”. Lễ hội xưa được tổ chức tại đền Thượng vào ngày 12 tháng 3 âm lịch.
Quán Nước (đền Hạ) được khởi dựng từ thời Lê sơ - triều Cảnh Thống (Lê Hiến Tông), thờ Thuận Đạo Thượng Sĩ là người có công giúp dân bảo vệ đê điều, chống lũ lụt, hàn gắn đê vỡ.
Thần sắc và tự tích còn lưu tại di tích và Tuân sức số 462 lập tháng 3 năm Bảo đại thứ 13 (năm 1938) - xã Tiền Lệ, tổng Đắc Sở, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, kể: Ngài là Thủy thần có tự tích rằng: Về đời Cảnh Thống ngăn đê giữ nước địa hạt sông Đáy nước lên to bị lở về địa phận làng chúng tôi đến tháng mười một mà nước vẫn chưa yên, dân tình lấy làm khổ lắm, tự nhiên thấy có một Ngài cưỡi con ngựa trắng và bốn người theo hầu đến chỗ lở ấy hỏi dân rằng “dân có muốn hàn khẩu được không?” dân chúng tôi kêu Ngài giúp cho dân việc ấy, Ngài dặn dân rằng “dân về sau có nhớ công đức, muốn cầu việc gì thời khấn là Thuận Đạo Thượng Sĩ ”, rồi Ngài thác xuống chỗ lở ấy và bốn người cùng thác theo Ngài cả, tự nhiên nước đứng hàn khẩu được, mọc lên cây cối xanh tốt, linh ứng dân chúng tôi lập miếu lên thờ, về sau nhiều năm tai hạn thừa sức cầu đảo hiện có linh ứng, cũng có sắc vua phong và tự tích cùng khẩu truyền xin sao rõ như sau này chớ không có bi ký gì cả. Ngài là Thủy thần, Ngài giúp việc ấy, duy biết có làng tôi thờ.
Ngài là người có công giúp dân bảo vệ đê điều, chống lũ lụt, hàn gắn đê vỡ; dân làng tưởng nhớ công đức của Ngài cùng 4 người theo hầu nên đã dựng miếu phụng thờ và suy tôn Ngài là “Bản thổ đương cảnh thánh hoàng làng”. Các triều đại sau, khúc đê này mỗi lần bị vỡ đê đều được đức Thuận Đạo Thượng Sĩ hiển linh giúp dân làng hàn khẩu, được các triều vua từ Lê Sơ đến triều Nguyễn phong mỹ hiệu Quang Ý Trung Đẳng Thần.
Đến thời Lê Trung Hưng làng dựng đình làng, đồng thời lập ban thờ vọng nhị vị Thành hoàng làng tại đình làng. Từ đó, hàng năm khi tổ chức Lễ hội truyền thống làng tổ chức rước hai thánh từ Quán Thượng và Quán Nước về đình làng, chính tiệc vào ngày 12 tháng 3 âm lịch. Tại đây, ngày hội làng sẽ cung nghinh hai đức Thành hoàng làng cùng quan quận công PHạm Mẫn Trực cùng quan Nghè về đình dự hội làng cùng nhân dân.
* Các sắc phong:
Đương cảnh Thành hoàng làng - Thượng đẳng thần Gia thông Lý Minh ứng đại vương:
- Quang Trung tứ niên (16/6/1791), phong “quả đoán Anh thông Đại vương”.
- Bảo Hưng nhị niên (17/5/1802), phong “long công mậu đức tuấn kiệt”.
- Thiệu Trị lục niên (17/11/1846), phong cho dân bản xứ “y cựu phụng sự”.
- Cảnh Thịnh nhị niên (23/01/1794), gia phong “đại thanh thần Đại vương”.
- Thiệu Trị tứ niên (17/7/1844), phong “diệu cảm phu ứng”
- Thiệu Trị lục niên (ngày 18 tháng 12 năm 1846), phong “y cựu phụng sự”.
- Thiệu Trị tứ niên (12/8/1844), phong gia “phu ứng”.
- Tự Đức tam niên (20/10/1850), phong gia “trác vĩ”.
- Tự Đức tam thập tam niên (18/12/1880), phong “y cựu phụng sự”.
- Đồng Khánh nhị niên (mồng 01/7/ 1887), phong gia “dực bảo trung hưng”.
- Duy Tân tam niên (11/8/1909), phong “y cựu phụng sự”.
Bản thổ đương cảnh Thành hoàng làng - Trung đẳng thần Nhu Hòa Vương Thuận Đạo Thượng Sĩ:
- Cảnh Thống lục niên, sắc phong “Nhu Hòa Vương hộ quốc an dân Thuận đạo Thượng sĩ thần”.
- Tự Đức lục niên (Tự Đức năm thứ 6 - 1853): phong “Hoằng hợp”.
- Đồng Khánh tam niên (năm 1888): phong “Dực bảo trung hưng”.
- Khải Định nguyên niên (năm 1916): phong “Quang ý trung đẳng thần”.
- Khải Định cửu niên (ngày 25/7/1924), phong “y cựu phụng sự”.
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan v.v:
- Hội chính: 05 năm tổ chức một lần. Lễ hội diễn ra vào các ngày từ mồng 10 đến hết ngày 13 tháng 3 âm lịch hàng năm.
- Hội lệ: Được tổ chức thường xuyên hằng năm, nhưng không tổ chức rước.
Từ năm 2011, làng quy định: 5 năm 1 lần làng tổ chức lễ hội truyền thống làng địa tại đình Tiền Lệ, những năm còn lại lễ hội truyền thống làng được tổ chức tại Quán Thượng. Công việc chuẩn bị từ giữa tháng Giêng, thôn lập tờ trình, kế hoạch trình UBND xã. Mồng Một tháng Hai âm lịch làng họp bàn chính đám. Thời gian diễn ra lễ hội từ ngày 10 tháng 3 đến hết ngày 13 tháng 3 âm lịch hằng năm, hội chính có rước, hội lệ không rước. Năm hội chính thì mời lãnh đạo UBND xã là trưởng ban tổ chức. Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trưởng ban tổ chức lễ hội chủ trì hội nghị triển khai kế hoạch và phân công nhiệm vụ cho các thành viên ban tổ chức.
Phần Lễ, duy trì các hoạt động tế, lễ, rước kiệu cổ truyền. Thành phần gồm các thành viên ban Khánh tiết làng; các ông trưởng xóm; thành viên ban công tác mặt trận thôn, chi hội người cao tuổi; chủ tế, chủ văn, ban hành lễ; thủ từ; thủ nhang; đại diện bô phụ lão 6 xóm; mời các cụ có uy tín, am hiểu về lễ hội làng; tuổi 60, tuổi 55 và các hội đồng niên tuổi từ 18 đến 60, những người có uy tín trong làng tham gia. Nhiệm vụ là tổ chức bài ban toàn bộ khu di tích. Chuẩn bị lễ vật cho việc tế lễ. Các thành viên ban tổ chức phụ trách các tiểu ban và công việc theo sự phân công của trưởng, phó ban tổ chức lễ hội. Xưa: Các giáp, phe, dòng họ, gia đình sắm sửa lễ vật, đóng góp nhân lực phục vụ lễ hội theo sự phân công của Ban tổ chức. Hiện nay, giao về các xóm dân cư sắm lễ.
Phần Hội, duy trì các hoạt động hội, khánh tiết, an ninh trật tự. Thành phần gồm các thành viên của các đoàn thể chính trị và các tổ chức xã hội trong thôn, trưởng các xóm, các hội đồng tuổi và đại diện bô phụ lão trong làng. Nhiệm vụ: Trang trí, khánh tiết khu di tích, địa bàn dân cư, các trục đường đoàn rước đi qua và các nơi công cộng trong làng. Đón lễ, trả lễ; đón khách, tiếp khách, sắp xếp vị trí; hướng dẫn nhân dân, khách thập phương lễ Thánh và dự lễ hội, viết phiếu công đức; chí lộc Thánh tới khách thập phương và nhân dân. Tổ chức các hoạt động thể thao, đấu vật, thi thổi cơm niêu, bóng đá, bóng chuyền, kéo co, các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa văn nghệ, đảm bảo an ninh trật tự lễ hội. Đặc biệt, là hội thi bắt cá Hồ Quán Nước, cuối tháng 2 âm lịch làng cho bơm hút nước hồ để mực nước khoảng 5cm, sau đó cho toàn dân tham gia đánh bắt cá hồ bằng vật dụng truyền thống như nơm cá, thung, rổ...(tuyệt đối không được dùng các vật dụng nguy hiểm), ai bắt được con cá to theo trọng lượng sẽ được làng thưởng, dân bắt được cá sẽ được đem về nhà.
* Ngày 10/3 âm lịch: Lễ mục dục (tắm rửa long ngai bài vị Đức thánh): Đây là công việc quan trọng và có ý nghĩa tâm linh do chủ tế đảm nhận, thời gian làm lễ vào đầu giờ Dần, lúc 05 giờ sáng. Lễ mộc dục là lễ mật khẩu, gióng áo, mũ nhà Ngài, vật phẩm là lễ chay có cơi trầu, nhang. Làng không có nghi thức rước nước. Nước để làm lễ mộc dục xưa lấy ở sông Đáy hoặc giếng làng hay hồ Quán Nước. Hiện nay, dùng nước mưa, nước được đựng bằng 2 chóe, hằng năm những ngày mưa giữa vụ thủ từ đưa 2 chóe ra giữa sân di tích hứng nước giữa trời và để vào ban thờ chính trong cung Đình, Quán, khi làm lễ lấy nước đó để nguyên tắm rửa long ngai bài vị Đức thánh. Khăn dùng trong lễ mộc dục làng không quy định màu, khăn do ban Khánh tiết làng chuẩn bị. Sau khi làm lễ mộc dục xong, nước được đem tưới cây quanh đình, quán, khăn được giặt bằng nước dùng để làm lễ mộc dục lại cất lên trong đại bái. Sau lễ mục dục là lễ thượng cờ, hội thi bắt cá Hồ. Chiều làng tổ chức tuyên dương, tặng thưởng con em trong làng trúng tuyển vào các trường đại học chính quy hàng năm.
* Ngày 11/3 âm lịch:
Sáng: Khai mạc lễ hội, tế dự cáo (tế trình thánh), thượng hương tại Quán Thượng và Quán Hạ; Hội lệ không rước, năm hội chính có rước kiệu và thượng hương tại đình làng. Nhân dân và khách thập phương đến lễ tại các điểm di tích.
Chiều: tổ chức các hoạt động phần hội, hát thuyển rồng. năm hội chính tế phụng nghinh (tế nghinh đón đức thánh) tại đình làng.
Tối: hát chiếu chèo sân đình.
* Ngày 12/3 âm lịch:
Sáng: tế chính tiệc tại hai quán, năm hội chính tế Hội đồng tại đình làng. Hai ban hành lễ của hai quán dự tế. Nhân dân và khách thập phương đến lễ tại các điểm di tích.
Chiều: tổ chức các hoạt động phần hội, hát thuyển rồng.
Tối: Tổ chức văn nghệ quần chúng.
* Ngày 13/3 âm lịch: Khai mạc lễ hội, tế
Sáng: Tổ chức làm lễ tại đình và hai quán, nhân dân và khách thập phương đến lễ tại các điểm di tích. Hội chính rước hoàn cung.
Chiều: tổ chức các hoạt động phần hội, thu cờ, kiệu.
* Lễ vật dâng cúng đủ ba ngày từ 11 tháng 3 đến ngày 13 tháng 3 âm lịch.
- Đình làng gồm bốn lễ, có thủ lợn, thịt lợn lăm, xôi do các giáp (nay là các xóm) chuẩn bị. Xôi trong lễ vật phải là loại xôi nếp cái hoa vàng, đơm bằng đĩa.
- Quán Thượng gồm 4 lễ, có thủ lợn, thịt lợn lăm (phần cổ), xôi do các xóm chuẩn bị. Xôi trong lễ vật phải là loại xôi nếp cái hoa vàng, đơm bằng đĩa.
- Quán Nước gồm 5 lễ, có thịt lợn lăm (phần cổ), xôi do các xóm chuẩn bị. Xôi trong lễ vật phải là loại xôi nếp cái hoa vàng, đơm bằng đĩa.
Khi chí lễ vật để lễ Thánh các xóm phải cử trai tân sạch sẽ, quang quẻ rước lễ hoặc đội lễ đến các điểm di tích để chủ tế biện lễ.
Lễ mỗi ngày do các xóm chuẩn bị, thủ lợn được đặt ở ban chính cung. Ngày 13 tháng Ba, vật phẩm lễ do ban Khánh tiết làng chuẩn bị, gồm thịt lợn gối, xôi là loại xôi nếp cái hoa vàng, đơm bằng đĩa do thủ từ thổi bằng bếp củi, nấu bằng nước mưa, tất cả được chế biến tại di tích.
Văn tế do cụ cao niên am hiểu chữ Hán Nôm, các phong tục, tập quán địa phương và thần phả, thần tích soạn văn. Chủ văn do các cụ toàn dân cử chọn, với tiêu chuẩn: Song tuyền, con cái đuề huề đủ trai, gái; Có uy tín với cộng đồng làng xã; Có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc; Gia đình không có tang chế; là gia đình văn hóa. Trước khi đọc chúc có người tiến chúc từ đài văn từ nhà tế tôn đi sau người chấp đăng đến giá đọc văn đặt bên hữu hương án ngoài sân di tích. Chủ văn đọc văn và làm lễ tại sân, sau đó người tiến chúc rước vào bên trong đại bái đặt trên sập thờ tại gian chính đại bái. Văn tế là những lời cầu nguyện và tán dương công lao của đức Thánh và đức Thành Hoàng làng như cầu cho quốc thái dân an, phong hoà vũ thuận, mùa màng tốt tươi. Nội dung văn tế thường nêu Quốc hiệu, năm thứ bao nhiêu, ngày tháng năm dâng lễ; địa chỉ làng, xã; người dâng lễ; lễ vật đang cúng gồm những gì; thỉnh nhà Ngài; các mỹ tự sắc phong đức Thánh; ca ngợi công đức nhà Thánh; cầu nguyện, tạ ơn, cầu chúc cho quốc thái dân an, dân làng bình yên, mạnh khỏe, con cháu thành đạt, mùa màng tốt tươi, nhà nhà được ấm no hạnh phúc… Sau hết các tuần tế lễ thì Chủ văn làm lễ hóa chúc trong chậu đồng đặt trên đài hóa chúc được làm bằng gỗ chạm trổ, sơn son thếp vàng đặt trên sập thờ gian chính đại bái di tích.
Tham gia hành lễ buổi tế: chủ tế, chủ văn; cử mịch, tiến đăng, dâng đài, tiến chúc, bồi tế, chấp kích, đông xướng, tây xướng, chiêng trống, ban nhạc. Khi dự tế tất cả mọi người trong ban tế đều đi hia, đội mũ, áo dài thụng, chủ tế mặc áo có gắn bổ tử rất trang nghiêm. Các buổi tế đều tổ chức bắt đầu từ giờ Tị, từ khoảng 9 giờ đến 10 giờ sáng. Thời gian mỗi buổi tế thường kéo dài một, hai canh giờ, riêng tế Hội đồng làng xem giờ tế theo năm tổ chức hội làng. Trong buổi tế thường qua Chín tuần tế: 1. Tuần củ soát lễ vật; 2. Tuần tẩy uế; 3. Tuần hương (Thượng hương); 4. Tuần rượu một (hành sơ); 5. Tuần Chúc; 6. Tuần rượu hai (hành trung); 7. Tuần rượu ba (hành chung); 8. Tuần lễ tạ Đại Vương do chủ tế làm; 9. Tuần hóa chúc do ông chủ văn làm trong nội điện. Trong quá trình tế có trống, chiêng, nhạc bát âm, (xưa kia múa sinh tiền) phù trợ kết hợp nhịp nhàng, bài bản theo quy định. Nếu ai làm sai thì không có phạt vạ gì.
* Quy trình tổ chức rước kiệu:
Lễ hội truyền thống có rước kiệu vào những năm đại đám. Đoàn rước gồm “Kiệu Lễ” phẩm vật hoa quả, oản đường được xếp thành cây 7 tầng; hoa, quả xếp xung quanh; “Kiệu sắc” rước sắc phong, trang trí hoa; “Kiệu Tráp Quần” trên bày biện bộ thất sự, nải quả; “Kiệu Hương Án - Ô xa” trên bày biện bộ thất sự; “Kiệu Bát Cống” (kiệu Thánh) rước Thánh có lọng che cán cong cố định ngai Thánh và mũ áo được gióng trên ngai. Địa điểm rước kiệu từ Quán Thượng và Quán Nước đến đình làng. Ngày 11 tháng Ba âm lịch sau tế dự cáo, thượng hương, làng tổ chức rước kiệu đoàn thứ nhất từ Quán Thượng đi theo trục đường làng lên đê về đình làng; đoàn thứ hai đi từ Quán Nước ngược theo đường đê về đình làng. Ngày 13 tháng Ba âm lịch thì rước hoàn cung từ đình làng theo đường cũ về Quán Thượng và Quán Nước.
* Nghi thức tổ chức rước kiệu:
1. Đoàn rước quán Thượng, gồm:
Đội Lân, Sư, Rồng: Đi đầu đoàn là các đội lân, sư, rồng tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc, hanh thông... do đội lân, sư, rồng Quan Anh làng Lại Yên dẫn đoàn với số người tham gia từ 40 người trở lên, trang phục theo quy định múa lân, sư, rồng ; 02 ông địa; 01 người thổi ốc tù và.
Ngựa và đội quân phù giá ngựa: Ngựa bạch có yên ngựa là hình tượng Phượng Hoàng, có cương, có chuông và bàn đạp, chân ngựa có hệ thống xe và bánh xe bằng gỗ để di chuyển, có 02 cụ cao niên chỉ huy là người cao to đội khăn xếp đen, mặc áo the đen, quần trắng, giày đen; 01 lọng đỏ che theo ngựa do 01 nam thanh niên mặc áo sa tanh đỏ viền vàng, khăn đầu dìu màu, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp... và đội quân phù giá ngựa là các em nhỏ trong làng.
Đội chinh cổ: Chiêng bên tả và trống bên hữu, theo nguyên tắc “tả chinh, hữu cổ” (theo hướng đi của đoàn rước), đi song song nhau. Phù giá Chiêng do 04 trung niên trang phục hàng kiệu đảm nhiệm, 01 cụ ông áo the đen, khăn xếp đen, quần trắng khởi chiêng. Phù giá Trống do 04 trung niên trang phục hàng kiệu đảm nhiệm, 01 cụ ông áo the đen, khăn xếp đen, quần trắng khởi trống.
Đội cờ: gồm 01 quốc kỳ cỡ đại do 02 hội viên Cựu Chiến binh mặc quân phục nghi lễ đảm nhiệm dẫn đầu đoàn rước, kế đến là cờ ngũ phương đi theo phương vị, tiếp sau là hai hàng cờ mở (cờ thần) đi trước đội nhạc, do các hội đồng niên được phân công đảm nhiệm, lễ phục quân hàng kiệu là áo hàng đô chất liệu sa tanh vàng viền đỏ, khăn đầu dìu màu, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp...
Đội nhạc: do đội nhạc cụ dân tộc và nhạc, trống của Quan Anh làng Lại Yên, gồm 08 ông bát âm vận lễ phục nhạc dân tộc và 03 ông trống, thanh la vận khăn xếp đen, áo the đen, quần trắng....
Đội múa tổng cờ, sênh tiền: đi trước kiệu dẹp đường là đội múa tổng cờ tay cầm cờ lệnh và đội múa sênh tiền do các em nhỏ là nam giới trong làng biểu diễn, mặc trang phục truyền thống và một cụ cao niên trong làng chỉ huy.
Kiệu Lễ: do 01 hội đồng niên đảm nhiệm, gồm 10 người rước (2 lớp rước) lễ phục hàng kiệu đầu chít khăn dìu màu, áo hàng đô sa tanh vàng viền đỏ, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp; 01 trống khẩu chỉ huy kiệu do cụ ông mặc áo the đen, khăn xếp đen, quần trắng.
Kiệu Tráp quần: 01 trống khẩu do cụ ông đầu đội khăn xếp đen, mặc áo the đen, quần trắng chỉ huy và 01 hội đồng niên đảm nhiệm chia thành 02 ca rước, mỗi lớp gồm 10 người, trong đó 08 người rước, 02 giữ tàn 2 bên kiệu, lễ phục hàng kiệu đầu chít khăn dìu màu, áo sa tanh vàng viền đỏ (người giữ tàn mặc áo sa tanh đỏ viền vàng), thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp.
Kiệu Sắc: do 01 hội đồng niên đảm nhiệm, gồm 10 người rước (2 lớp rước) lễ phục hàng kiệu đầu chít khăn dìu màu, áo hàng đô sa tanh vàng viền đỏ, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp; 01 trống khẩu chỉ huy kiệu do cụ ông mặc áo the đen, khăn xếp đen, quần trắng.
Kiệu Hương án - Ô xa: 01 trống khẩu do cụ ông đầu đội khăn xếp đen, mặc áo the đen, quần trắng chỉ huy và 03 hội đồng niên đảm nhiệm chia thành 03 ca rước, mỗi ca gồm 12 người, trong đó 08 người rước, 04 người người giữ lọng, giữ tàn tròn màu đỏ, lễ phục hàng kiệu đầu khăn xếp màu đen, áo sa tanh vàng viền đỏ, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp.
Đội Nghi trượng (Lỗ bộ, bát bửu, chấp kích, tàn tròn): do 02 hội đồng niên trung niên đảm nhiệm, trong đó:
- Lỗ bộ (dùi đồng, đao chảm mã): 04 người lễ phục hàng quân đầu đội mũ đồng rộng vành, áo quân màu đỏ viền vàng đều có họa tiết hoa văn, phía trước có thêu bức hổ phù, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp, tay vác roi thờ (chảm mã);
- Biển rước: (“Viễn đạo”,“Nghiêm túc” và “Thanh tĩnh”,“Hồi tị”): 02 người, lễ phục hàng kiệu đầu chít khăn dìu màu, áo sa tanh đỏ viền vàng, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp;
- Bát bửu quán gồm Lẵng hoa, Cuốn thư, Đàn Tỳ bà, Tù và, Hòm sách, Sáo trúc, Hồ lô, Quạt vả: 08 người mặc áo hàng đô, quần trắng, chân quấn sà cạp;
- Chấp kích (Bát bửu đền - theo tín ngưỡng dân gian) gồm 2 Trùy, Phủ Việt, Đại Đao, Câu liêm, Trượng, Giáo, Cờ Mao tiết: 08 người mặc áo hàng đô, quần trắng, chân quấn sà cạp;
- Tàn tròn (Lọng tàu): 04 người giữ tàn tròn màu đỏ,…
Kiệu Bát Cống: phải do tuổi 55 đến 60 nam giới rước, lễ phục đầu đội khăn xếp đen, áo the đen, quần trắng. Mỗi ca 08 người rước; 04 người giữ 04 quạt ấp phủ kín kiệu Thánh, phía sau ngai kiệu gắn 01 tán cán cong(lọng) màu vàng gắn 16 bông cù (bông bèo) cán cong; 02 người giữ 02 lọng vàng,… 01 trống khẩu gồm 02 cụ ( 2 ca) tuổi từ 70 - 80 tuổi chỉ huy;
Tiếp đến là các chủ tế, chủ văn, ban hành lễ của Quán Thượng chia hai hàng. Tiếp sau là các bô phụ lão cao niên của 3 xóm được phân công theo thứ tự tuổi từ các cụ áo đỏ đến các cụ áo đen đi hai hàng phía sau ban hành lễ. Theo sau là các vãi chùa Bến và chùa Thông. Nhân dân cùng tham gia đoàn rước đứng ở hai bên đường và đi phía sau đoàn rước. Các gia đình bên đường kiệu đi qua thường đặt mâm lễ ở cổng để khi kiệu đi qua họ thắp hương.
2. Đoàn rước quán Nước, gồm:
Đi đầu đoàn là đội Lân, Sư, Rồng làng Tiền Lệ: Lân, sư đua nhau vờn múa rất đẹp mắt;
Ngựa thần và đội quân phù giá ngựa: có 01 chỉ huy, 01 lọng đỏ và đội phù giá ngựa, đội phù giá ngựa cũng phải do các cháu nhỏ kéo thì ngựa mới chạy;
Đội chinh cổ: Chiêng bên tả và trống bên hữu, theo nguyên tắc “tả chinh, hữu cổ”, đi song song nhau, nhân lực như quán Thượng.
Đội cờ: nhân lực như quán Thượng.
Đội nhạc làng Tiền Lệ: do đội nhạc của làng cùng đội nhạc làng Lại Yên đảm nhiệm.
Đội múa sênh tiền: đi trước kiệu múa sênh tiền do các em nhỏ là nam giới trong làng biểu diễn, mặc trang phục truyền thống và một cụ cao niên trong làng chỉ huy.
Kiệu Lễ, Kiệu Tráp quần, Kiệu Sắc: nhân lực như quán Thượng.
Kiệu Giá Văn: xưa dùng để rước văn, nay dùng để rước hòm sắc; có lọng che: 01 trống khẩu do cụ ông đầu đội khăn xếp đen, mặc áo the đen, quần trắng chỉ huy và 01 hội đồng niên đảm nhiệm chia thành 02 ca rước, mỗi lớp gồm 10 người, trong đó 08 người rước, 04 người người giữ lọng, lễ phục hàng kiệu đầu khăn xếp màu đen, áo sa tanh vàng viền đỏ, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp.
Kiệu Hương án - Ô xa: nhân lực như quán Thượng.
Đội Nghi trượng (Lỗ bộ, bát bửu, chấp kích, tàn tròn): do 02 hội đồng niên trung niên đảm nhiệm, trong đó:
Lỗ bộ (dùi đồng, đao chảm mã): 06 người lễ phục hàng quân đầu đội mũ đồng rộng vành, áo quân màu đỏ viền vàng đều có họa tiết hoa văn, phía trước có thêu bức hổ phù, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp, tay vác roi thờ (chảm mã);
Biển rước: (“Túc đạo”,“Nghiêm viễn” và “Tị tĩnh”,“Hồi thanh”): 02 người, lễ phục hàng kiệu đầu chít khăn dìu màu, áo sa tanh đỏ viền vàng, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp;
Bát bửu quán: gồm Lẵng hoa, Cuốn thư, Đàn Tỳ bà, Tù và, Hòm sách, Sáo trúc, Hồ lô, Quạt vả: 08 người mặc áo hàng đô, quần trắng, chân quấn sà cạp.
Chấp kích: (Bát bửu đền - theo tín ngưỡng dân gian) gồm 2 Trùy, Phủ Việt, Đại Đao, Câu liêm, Trượng, Giáo, Cờ Mao tiết: 22 người mặc áo hàng đô, quần trắng, chân quấn sà cạp;
Tàn tròn: (Lọng tàu): 04 người giữ tàn tròn màu đỏ,…
Kiệu Bát Cống: phải do tuổi 55 đến 60 nam giới rước, lễ phục đầu đội khăn xếp đen, áo the đen, quần trắng. Mỗi ca 08 người rước; 04 người giữ 04 quạt ấp phủ kín kiệu Thánh, phía sau ngai kiệu gắn 01 tán cán cong (lọng) màu tía gắn 16 bông cù (bông bèo) cán cong; 02 người giữ 02 lọng vàng,… 01 trống khẩu gồm 02 cụ ( 2 ca) tuổi từ 70 - 80 tuổi chỉ huy.
Mỗi kiệu có một ông chỉ huy kiệu, quần áo hàng đô đồng bộ là chất liệu sa tanh đỏ viền vàng, khăn đầu dìu màu, thắt lưng màu, quần trắng, giày trắng, chân cuốn sà cạp… Tiếp đến là chủ tế, chủ văn, ban hành lễ của Quán Nước; tiếp sau là các cụ cao niên của 3 xóm được phân công theo thứ tự tuổi từ áo đỏ xuống áo đen, các vãi chùa Rừng cùng dân làng và khách thập phương.
* Mỗi một đoàn rước có 01 ông tổng chỉ huy và 01 phó chỉ huy theo sự phân công của ban Tổ chức Lễ hội. Những người có đại tang không được tham gia đoàn rước.



