Miếu (đền) Cổ Dương
Nội dung bài viết
Câu chuyện điểm đến
01DI TÍCH ĐỀN CỔ DƯƠNG
Đền Cổ Dương, xã Tiên Dương (cũ) nay là xã Phúc Thịnh. Trước đây. Còn gọi là thôn Cửu Giang vì có vị trí ở gần cửa 2 ngã sông, nhánh sông nhỏ (lạch) chảy qua phía Nam của làng qua khu vực Lương Nỗ đổ vào cửa Ngũ Khê ra sông Nguyệt Đức (sông Cà Lồ - sông Cầu). Nhánh nữa đổ vào sông Thiếp qua sông Hoàng vè Ngũ Huyện Khê. Tên gọi cửa sông đó là cửa “Nhị Giang”,

Cửa Giang rồi Cổ Giang sau này gọi là Cổ Dương. Vùng đất này có vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng trong lịch sử cổ đại của nước ta khi Cổ Loa được chọn làm kinh đô thì Cổ Dương là vùng đất ven đô, tiếp giáp bao quanh kinh thành.
Đền Cổ Dương được xây dựng từ rất sớm, có diện tích khoảng 2 sào Bắc Bộ, được làm trên nền một ngôi miếu cổ tại trung tâm thôn Cổ Dương nên còn được gọi là Cổ Miếu. Trên kiến trúc của đền còn lưu lại một số mảng chạm khắc cổ, trên bờ nóc có đắp nổi 2 chữ “Cổ Miếu”.
Đền Cổ Dương thờ ba vị thần là: Bản Cảnh Thành hoàng Đại Giới Linh phù - Thiên Bảo thượng đẳng phúc thần, là Thổ thần đã âm phù giúp Lý Bôn (Lý Bí) khởi nghĩa lập nước Vạn Xuân. Lý Nam Đế lên ngôi đã ban phong cho ông làm thần và cho Cổ Dương phụng thờ. Thần tích còn ghi nhận thổ thần Bản Cảnh Đại Giới đã nhiều lần âm phù giúp nước, thời sau được các triều vua ban tặng sắc phong.

Vị thần thứ hai là vua Lý Nam Đế Xá Lợi đế vương và vị thần thứ ba được phối thờ tại đền là Đống Vĩnh Đại vương, tên huý là Trương Hống đã có công giúp vua Hùng đánh giặc.
Đền có bố cục hình chữ “đinh” gồm đại bái và hậu cung. Đại bái 7 gian được làm theo kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu. Hệ thống cửa bức bàn chạy suốt tạo vẻ vững chãi, uy nghiêm cho di tích.
Hậu cung có 3 gian chạy dọc, kết cấu liền ở sau giữa của đại bái, được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng mái, đầu đốc có đắp nổi mặt hổ phù. Trên kiến trúc có chạm khắc lá cúc, lá lật, vân mây, sóng nước, các đấu kê nổi cúc lão hoá long… Nhìn chung, trang trí trên kiến trúc đền Cổ Dương đơn giản, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn đầu thế kỷ XX. Tuy vậy, các trang trí đã góp phần giúp cho kiến trúc của đền bớt khuôn hình gò bó, tạo sự thanh thoát.
Cửa võng của đền trang trí mang phong cách nghệ thuật đặc sắc thời Nguyễn. Bên dưới cửa võng bao kín từ đầu cột cái phía sau đến từng thân cột có từng hương án. Bên ngoài hương án bày các đồ thờ tự.
Đền Cổ Dương còn lưu giữ được một bộ di vật quý gồm: Ba cỗ long ngai bài vị trang trí đầu rồng, hổ phù, tứ quý có niên đại từ thời Hậu Lê (thế kỷ XVIII), cửa võng sơn son thiếp vàng trang trí lưỡng long chầu nhật, tứ linh, tứ quý, hồ phù mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX), bức hoành phi chạm nổi long chầu ở hai bên, thần sắc chép năm 1938 gồm 8 đạo sắc phong có niên đại: Hai đạo sắc của Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1886), 2 đạo sắc Khải Định thứ 2 (1917), 2 đạo sắc Khải Định thứ 9 (1924), 1 cuốn thần tích ghi sự tích các thiên thần thờ tại đền hiện đang được lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội.
Trong cách mạng tháng Tám, do đền có vị trí trung tâm nên nơi đây đã được dùng làm địa điểm tập hợp quần chúng nhân dân tham gia khởi nghĩa dành chính quyền, là nơi hội họp của các tổ chức quần chúng cứu quốc. Giai đoạn 1946 – 1954, đền là nơi tổ chức Tuần lễ vàng, bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên, mở lớp bình dân học vụ. Có một thời gian đền là nơi đóng trụ sở của Uỷ ban hành chính huyện Đông Anh (nay là xã Đông Anh), là cơ sở để Đại đội 476 (bộ đội địa phương huyện Đông Anh) và tỉnh đội Phúc Yên qua lại hoạt động.
Năm 1947, khi đình làng bị tháo dỡ một phần để tiêu thổ kháng chiến, các đồ thời đã được di chuyển vào đền. Năm 1949, đình làng lại bị quân địch đốt phá lấy gỗ gạch xây bốt nên các sinh hoạt thờ cúng thần, Thành hoàng đều chuyển về đền.
Trong kháng chiến chống Mỹ ngôi đền được dùng làm trụ sở của thôn, nhiều năm liền tại đây đã tổ chức các hội nghị nhân dân, là trụ sở Hợp tác xã nông nghiệp.
Trước đây, khi còn cả đình có tổ chức lễ hội lớn, có lễ nghênh rước đông vui của địa phương, phủng long ngai, bài vị trên kiệu bát cống cùng nhiều đồ nghi trượng, cờ, lễ đi từ đền ra đình. Vài năm một lần tổ chức lễ hội vào năm phong đăng hoà cốc, được mùa. Hội lễ ở Cổ Dương có tổ chức tiếp đón thập phương, làng chạ, con cháu ở các nơi kéo về… Trong lễ tiết ở Cổ Dương có việc dâng lễ bánh dầy, bánh chưng, gạo xôi cùng các việc tế lễ, tổ chức trò vui, ca hát.
Đền (miếu) Cổ Dương được xếp hạng di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố theo Quyết định số 9085/QĐ-UBND ngày 31/12/2002.



