Miếu Hoàng Xá, thôn Khánh Vân, xã Thường Tín
Giới thiệu
Nói về mảnh đất Thường Tín Nguyễn Trãi đã có nhận xét như sau: "... Là một vùng đất cao ráo, bằng phẳng, ruộng thì vào hạng thượng nhất. Cấy lúa thích hợp, nhân dân làm lụng hơn các vùng khác, các triều phí nuôi quân đều nhờ ở đây...Đúng vậy, tại Thường Tín ngoài nghề trồng lúa và hoa màu, nhân dân có bản chất cần cù, thông minh, chịu khó học hỏi nên đã sớm biết chế biến những nông sản do mình làm ra để phục vụ sinh hoạt thường nhật, như: muối cá, muối dưa, làm bánh, nấu rượu và chế tác ra những dụng cụ, đồ dùng bằng tre, gỗ... để phục vụ cho sản xuất và trao đổi trong cộng đồng làng xã của nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp. Dần dần hình thành các làng nghề chuyên sản xuất những mặt hàng có sức hấp dẫn nổi tiếng như nghề sừng ở thôn Thụy Ứng, nghề thêu Quất Động, nghề đan lưới Trần Phú, nghề mộc ở Gia Phúc, Gia Khánh, nghề thêu ren ở Gia Khánh, Đình Tổ, bánh kẹo ở Mễ Sơn, nghề tiện gỗ ở Nhị Khê…”
Khánh Hà là mảnh đất thuộc đồng bằng Bắc bộ, do phù sa sông Hồng, sông Nhuệ và sông Tô Lịch bồi đắp nên rất màu mỡ, thích nghi với việc trồng lúa nước, cây hoa màu. Có được vùng đất này là do công sức của các thế hệ người dân Khánh Hà nối tiếp nhau cải tạo, san những gò cao, lấp những ô trũng thành những cánh đồng phì nhiêu, bằng phẳng thuận tiện cho việc tưới tiêu khi hạn hán úng lụt. Từ xa xưa người dân Khánh Hà với bản tính cần cù yêu lao động, đắp đê ngăn nước sông Nhuệ, sông Tô Lịch để tăng gia sản xuất trên những đồng ruộng của quê hương. Từ lâu đã có câu ca:
Đỗ Hà, Hoàng Xá, Khánh Vân;
Trong ba làng ấy lấm chân cả ngày.
Bên cạnh đó người dân nơi đây còn phát triển nhiều nghề thủ công mỹ nghệ như: mây tre đan, phục vụ sản xuất, đồ dùng trong gia đình, và các nghề phục vụ nên kinh tế tự cung tự cấp tại địa phương.
Song song với việc phát triển kinh tế, nhân dân Khánh Hà còn chắt chiu để xây dựng đường làng, ngõ xóm và những công trình văn hóa của làng như đình, chùa, miếu, quán, văn chỉ... nhiều công trình kiến trúc lịch sử văn hóa còn lưu truyền như: đình Khánh Vân, đình Đan Nhiễm đã được xếp hạng cấp quốc gia.
Theo tham khảo ý kiến của nhân dân địa phương được biết trước đây làng Xuân Nê, Khánh Vân, Hoàng Xá có một ngôi đình chung xây dựng từ thời Hậu Lê tại gò Đường Lớn, gọi là đình Ba Chạ (đình của ba thôn). Đình thờ thần Hoàng là Quách Gia Suy, lai lịch vị thần được ghi trong thần tích lưu giữ tại đình Khánh Vân như sau: Bình Ngô đại cáo có ghi: "Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hung cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau song hào kiệt đời nào cũng có". Vừa rồi vì họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán hận. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược. bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ".Ta đây "Núi Lam Sơn dấy nghĩa, chốn hoang dã nương mình.
Ngắm non song căm nội thế thù, thế song chết cùng quân nghịch tặc. Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy nắng mưa, nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối" Trong bối cảnh lịch sử ấy, Lam Sơn đã xuất hiện một vị anh hùng dấy cờ khởi nghĩa đang lúc quân thù còn mạnh. Ngài đau đáu một niềm phục quốc và chiêu mộ hiền tài từ bốn phương. Ở Thanh Hóa có một tướng quân cũng có chí hướng phục quốc. Ông có tên là Quách Gia Suy.
Quách Gia Suy xin gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và được giao chỉ huy cuộc hành quân thần tốc từ vùng núi Ninh Bình (địa phận Tam Điệp) tiến về giải phóng thành Đông Quan. Đây là những năm tháng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Minh. Thế của quân Lam Sơn tuy mạnh nhưng do địch co cụm về Thăng Long với số quân lên tới 40 vạn do tổng binh Vương Thông chỉ huy nên nghĩa quân Lam Sơn bị hao tổn nặng nề. Tướng quân Quách Gia Suy sau này được triều đình ban phong là "Linh Thánh đại vương" tập kích đại quân về phía Namkinh thành Thăng Long nhưng quân sĩ bị hy sinh rất nhiều. Trước tình hình đó, tướng quân Quách Gia Suy phải rút quân về co cụm tại một làng nhỏ bên song Tô Lịch. Ngôi làng có thế đất đẹp và đêm ấy Ngài cùng nghĩa binh lập đàn cầu đảo. Cuộc tế lễ đang diễn ra thì trên trời có đám mây lạ trôi về bao phủ (nơi mà nghĩa quân đang trú ngụ) như một điềm báo sự tốt lành. Quả nhiên hôm sau ngài cất quân lên đường tiến quân vào thành Đông Đô, cuộc tiến quân hoàn toàn thắng lợi. Sau khi non song thu về một mối, ca khúc khải hoàn Lê Lợi lên ngôi hoàng đế và tổ chức mừng công khen thưởng các công thần. Tướng Quách Gia Suy đã kể lại sự việc đám mây lành cho nhà vua nghe. Vua liền ban danh cho làng ấy là làng Khánh Vân.
Sau khi tướng quân Quách Gia Suy qua đời, để tưởng nhớ công lao của ngài, làng Hoàng Xá tôn ngài là vị thành hoàng để phụng thờ. Trải qua các triều đại, ngài đều được ban sắc phong. Tại đình Hoàng Xá còn lưu giữ 07 đạo sắc phong cho vị thần Quách Gia Suy. Đạo sắc có niên đại sớm nhất là sắc có niên hiệu Cảnh Hưng 44 (1783), sắc có nội dung như sau:
Phiên âm hán việt: Sắc đương cảnh thành hoàng Quách Gia Suy Linh Thánh tôn thần Đại Vương thích viết: Hoàng đế Thượng sĩ Tôn linh kiêm Ba núi Bảy sông cập Vua Bà A Hồng Nương công chúa. Khí chung hà nhạc, đức hợp âm dương, đại tai Càn, chí tai Khôn, tham tán lưỡng gian chí hóa dục, an như...xí như hỏa mặc, phủ ức tài chi cơ đồ, đôn tướng niệm ký, chu văn phong hiển nghi... hán trật. Vi tự vương tiến, phong vương vị, lâm cư chính phủ, lễ hữu đăng trật, ứng bao phong mỹ tự tam tự, khả bao phong: Đương cảnh Thành hoàng hiển linh, tá quốc khang dân, Quách Gia Suy linh thánh đại vương thích viết: Hoằng tế Thượng sĩ tôn linh kiêm Ba núi Bảy song cập trang tử Tề tế Linh tuệ Vua Bà A Hồng Nương công chúa. Cố sắc!
Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thất nguyệt nhị thập bát nhật.



