Miếu Hưng Hiền, thôn Hiền Giang, xã Thường Tín, thành phố Hà Nội
Giới thiệu
Qua khảo sát và tìm hiếu tại di tích và lịch sử mảnh đất nơi đây thì: Cụm di tích đình, miếu Hưng Hiền có niên đại khởi dựng từ khá sớm có thể gắn liền với sự lập làng xã. Trải qua những thăng trầm của lịch sử tự nhiên và xã hội, di tích không còn ghi lại được những nguồn tư liệu chính xác năm khởi dựng của những di tích này. Dấu tích vật chất hiện còn mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn. Việc xác định niên đại khởi dựng tương đối cho di tích căn cứ trên nguồn tư liệu (di vật) như: bia đá, thần phả và sắc phong hiện còn lưu giữ tại di tích:
Trong đó có sắc phong sớm nhất là sắc Cảnh Hưng và muộn nhất là sắc Tự Đức. Như vậy, có thể đoán định di tích xây dựng vào thời Lê. Tồn tại đến ngày nay, di tích đã cứ vào những hồi cố của các cụ địa phương đã qua vài lần trùng tu, sửa chữa nhỏ: Năm 1998 đảo ngói lại, năm 2000 sửa lại sân.
Hưng Hiền là một làng cổ nằm ở phía Tây huyện Thường Tín. Trong khu vực này tồn tại nhiều di tích cổ quan trong trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Căn cứ vào hệ thống di văn và lời kể của nhân dân địa phương thì đình, miếu Hưng Hiền là nơi thờ các vị thành hoàng làng. Các vị thành hoàng này là những vị thần được phân thành nhiều lớp theo thời gian. Vị thành hoàng chính thức được thờ tại di tích này là Cao Sơn đại vương và Đông Hải Đại vương cùng tứ vị thần khác được phối thờ như: Thiên Vương, Quý Minh, Xuân Dung công chúa, Phương Dung thần vị. Thân thế và sự nghiệp của các vị Thành hoàng có thể được tóm tắt như sau:
1. Cao Sơn Quốc chúa Đại Vương: Theo cuốn Thần tích Việt Nam thì hiện nay Thành hoàng Cao Sơn đại vương có nhiều nơi trong cả nước tôn thờ. Lai lịch của vị thần có nhiều dị bản. Theo PGS - TS Nguyễn Tá Nhí, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì nhiều địa phương phụng thờ Cao Sơn đại vương ... là nhân vật được ghi chép trong cuốn Ngọc phả "Tam vị đại vương thượng đẳng thân Tản Viên Sơn Thánh", có nơi phụng thờ Cao Sơn đại vương là Trần Thủ Độ nhưng ở đình Hưng Hiên, là nhân vật lịch sử có thật. Căn cứ vào sự tích Thần Cao Sơn do hộ phiên ở phường Kim Liên sao ngày 17 tháng 12 năm Cảnh Hưng thứ 7 (1746), sau đó nhuận sao thì thân thế và sự nghiệp của Thành hoàng Cao Sơn đại vương có thể tóm tắt như sau: Ngày 16/3, tại đất Bảo Sơn, quận Quảng Nam, nước Đại Minh có ông bà họ Cao sinh ra một người con trai tên là Hiển, tự là Cửu Trường. Khi sinh ra, tướng mạo khôi ngô, đĩnh ngộ, thiên bẩm thông minh, trí khí khác người. Lúc còn nhỏ am tường sách thi thư, đặc biệt thông luận ngũ kinh. Năm 27 tuổi, Ngài dự kỳ thi hương và trúng cách. Năm Khánh lịch thứ 6 triều Minh, ngài dự thi Đình và hai lần đỗ Tiến sĩ. Vốn có tài cao nên Ngài được phong giữ chức Thừa tướng và cử đi dẹp loạn.
Sau khi toàn thắng trở về, vua Minh lại gia phong làm Đại thừa tướng giữ quyền Nguyên soái. Do có công như vậy nên năm 78 tuổi, vua cho ngài về dưỡng già. Cao Sơn đại vương liền đi du ngoạn và có đi đất Hưng Hiền. Thấy đây là vùng đất nước non hữu tình, việc nông trang trù phú, nên ngài đã dừng chân tại đây và dạy nhân dân cày cấy, sau đó tiếp tục du ngoạn những nơi sơn thủy hữu tình.
Tương truyền, ngài thọ 103. Sau khi ngài hóa, vua nhớ công lao phong là Cao Sơn quốc chúa đại vương và ben tên thụy là Trung Trinh, sau đó sắc cho các nơi mà ngài đã đi qua lập đền thờ phụng, tuyên dương công đức mãi về sau.
Để tỏ rõ linh ứng của thần phù trì cho dân làng, ngày 5 tháng 2 năm Hoằng Định thứ 10 (1610), triều đình đã ban sắc để tỏ rõ linh thiêng. Sắc viết:
Phong sắc cho linh thông cảm thông hiển hựu chiêu ứng sùng khang Cao Sơn đại vương vì là bậc thiên bẩm chính khí, quét trừ hoạn nạn, mênh mang giáng
phúc, cầu tất thông, thờ tất ứng, sâu sắc rủ xuống đời sau. Nay nhân dịp quan trọng, tiến cử để thể hiện rõ điểm chế của triều đình đối với công lao to lớn của thần với đất nước trong việc ngăn ngừa tai họa, giúp sức cho dân, thần xứng đáng được phong tặng là Cao Sơn linh quốc, cảm đạo hiển hựu chiêu ứng sùng nhân địch nghĩa dịch vận khang dân tòng phúc đại vương. Nay sắc, muôn đời hương hỏa.
2. Đông Hải Đại Vương: Khảo cứu về lai lịch và hành trạng của Đông Hải đại vương Nguyễn Phục hiện tại đình Hưng Hiền không còn thần phả nói về ngài, chúng tôi phải căn cứ vào các đạo sắc phong lưu tại đình, và nguồn tư liệu sưu tầm được tại đình Phương Quế (di tích xếp hạng Quốc gia), một số di tích cùng thờ ngài và nguồn sử liệu như: Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư, các nhà khoa bảng Việt Nam.
Trong kho sách của Trường Viễn Đông Bắc cổ trước đây (nay lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm) thì cuốn "Hà Đông tỉnh, Thường Tín huyện, La Phù tổng, Ngọc Nữ xã, Phác Động thần sắc" (ký hiệu AD/a2/69) cho biết Đông Hải đại vương Nguyễn Phục người xã Đoàn Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương, đỗ Hoàng giáp năm Thái Hòa thứ 11 đời vua Lê Nhân Tông, từng là thầy dạy của vua Lê Thánh Tông lúc còn nhỏ. Ông đã giữ chức Hàn Lâm đại học sĩ, là cựu thần triều Lê kiêm chức Thái phó.
Theo Đại Việt sử kí toàn thư: "Tháng 2 (năm Quý Mùi 1463) thi hội các cử nhân trong nước. Bấy giờ ứng cử đến 4.400 người, lấy đỗ 44 người. Ngày 16 thi Điện các Tiến sĩ, sai nhập nội kiểm hiệu tư đồ bình chương sự là Nguyễn Lỗi... chính sự viện tham nghị là Nguyễn Phục làm giám thí". "Tháng 4 (Đinh Hợi 1467) lấy Nguyễn Phục làm Thừa tuyên tham nghị Thanh Hoa. Vua dụ rằng: "Năm trước, sai người đi sứ phương Bắc, được mạnh khỏe mà về, năm nay cho gọi, lại dâng lời nói hay, đáng khen. Nay sai giám thừa Nguyễn Lồi bạc lạng thưởng cho để nêu lòng trung, hết tình của ta nên nhận lấy". Đến tháng 2 (1470), ông đã làm đến chức đô chỉ huy sứ Cẩm y vệ. Lúc này (tháng 8/1470), vua Chiêm Thành là Trà Toàn đem quân quấy rối biên giối lại kiêu ngạo tự cho mình là giỏi, nói vu đánh lừa người Minh để xin viện trợ mà sang cướp. Cho nên Lê Thánh Tông bèn gọi quân tinh nhuệ 26 vạn người, xuống chiếu đánh Chiêm Thành. Khi ấy, Nguyễn Phục cùng Lê Khôi được giao trọng trách lo việc quân lương cới chức "Chuyển vận sứ tướng quân". Khi đoàn thuyền vào tới cửa biển Tư Dung thì gặp bão lớn. ông cùng Lê Khôi quay thuyền vào cảng. Các quan tùy tùng đều nhắc "Quân mệnh rất nghiêm". Hai ông trả lời "Ta thà liều tấm thân nhỏ dưới ba thước gươm của triều đình hơn là để mấy nghìn quân lính làm mồi cho cá". Thuyền tiếp viện đến ngự doanh bị lỡ hẹn. Lê Thánh Tông hạ lệnh tống giam "Chuyển vận sứ" chờ xử tội".
Sách Đại Nam nhất thống chí có đoạn chép: Khi Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông làm việc đốc vận quân lương, vì bị bão, sai kỳ phải chịu quân pháp. Sau vua biết ngài bị chết oan, truy phong làm phúc thần. Nay dân ở xã ven biển đều thờ gọi là Tùng Giang, cũng có đền thờ ở xã Phương Bằng bản huyện. Sau này khi Lê Thánh Tông luận công ban thưởng, thấy rằng Nguyễn Phục là vị quan vì sự sống còn của đoàn vận chuyển lương mà bị chậm việc tiếp tế. Nhà vua đã minh oan cho Nguyễn Phục, phong là phúc thần, hộ quốc an dân.
3. Vị thứ ba: Hiển linh diệu ứng quang đại thần chính dực bảo trung hưng thiên vương tiên để quý thần tôn thần vị.
4. Vị thứ tư: Hiển ứng anh thông linh tế linh diệu địch cát tĩnh dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần vị.
5. Vị thứ năm: Đệ nhị cung my Xuân Dung công chúa tôn thần vị.
6. Vị thứ sáu: Trinh khiết minh lương tĩnh my tế tịnh dực bảo trung hưng Phương Dung thần vị.
Có thể nói rằng, chủ thể phụng thờ tại đình, miếu Hưng Hiền có cả những vị thần, có cả những vị nhiên thần tạo thành những lớp phụng thờ mang đậm tín ngưỡng dân gian và tôn thờ những anh hùng có công với dân với nước.
Trong lục vị thành hoàng này có các vị thần như Cao Sơn đại vương, người có công dạy dân cấy cày, phổ bác thuần phong mỹ tục. Đông Hải đại vương là một vị khoa bảng triều hậu Lê, đã tham gia bình chiêm cùng với vua; sau khi hóa, vua truy phong công đức và tôn thờ là vị thành hoàng. Các vị như Tiên thiên, Quý Minh, Xuân Dung, Phương Dung, chúng tôi cho rằng đây có lẽ là những vị thiên thần ứng hiện, phù giúp đời sống tinh thần cho nhân dân, ấm no, hạnh phúc.
Trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là một trong những điểm sơ tán của bộ đội Phòng không và cơ quan của Đài tiếng nói Việt Nam và một số tổ chức đoàn thể khác. Phát huy truyền thống của cha ông trong thời đại Hồ Chí Minh, đình, miếu Hưng Hiền là nơi sinh hoạt và hội họp của người dân trong xã. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cũng dưới mái đình này đã tiễn đưa bao lượt người con Hưng Hiền lên đường đánh giặc. Năm 1946, tại ngôi đình này người dân Hưng Hiền đã đào hầm cho các chiến sĩ lưu trú. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những người con của quê hương tiếp nối truyền thống yêu nước của những người đi trước đã đóng góp công sức đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta đến thắng lợi. Những đóng góp lớn lao đó của người dân Hưng Hiền đã được Tổ quốc ghi nhận, được Nhà nước và Chính phủ đã tặng nhiều bằng khen, huân, huy chương và các danh hiệu cao quý khác để cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau học tập và phát huy truyền thống yêu nước đó.
Cụm di tích đình, miếu Hưng Hiền là lễ hội của cư dân nông nghiệp với mục đích cầu cho quốc thái dân an, vật thịnh, khuyến khích các ngành nghề mở mang phát triển. Lễ hội làng là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng nghệ thuật cộng đồng có tác dụng đoàn kết dân tộc, làm cho mọi người nhớ về cội nguồn, biết ơn tổ tiên và cũng là dịp để cho người dân thi tài khéo léo, vui chơi giải trí sau những ngày lao động vất vả khó nhọc. Với tinh thần đó lễ hội truyền thống làng Hưng Hiền được mở vào ngày 10 tháng 11 âm lịch hàng năm.



