Miếu Vườn Nở
Giới thiệu
Cấp xếp hạng di tích: Miếu Vườn Nở xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
1. Sự kiện, nhân vật lịch sử
Kiều Phú là một làng Việt cổ có từ xa xưa, cùng với việc tụ cư lập làng, hệ thống tôn giáo cũng sớm được hình thành, nhiều công trình kiến trúc được xây dựng để đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư làng xã, đồng thời bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Từ ngàn xưa, hình ảnh cây đa giếng nước sân đình vốn đã quen thuộc và không thể thiếu trong các làng Việt cổ ở đồng bằng Bắc bộ. Ở mỗi làng trong xã Kiều Phú hiện còn bảo tồn được hệ thống di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu cho vùng xứ Đoài như đình Ngọc Bài, quán Ngọc Bài, chùa Đồng Bụt, chùa Ngọc Phúc, đình Ngọc Phúc, đình, quán Liệp Mai… đã được nhà nước xếp hạng. Hầu như các thôn làng nào cũng có đủ các thiết chế văn hóa như đình, đền, chùa nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Đình, miếu dựng lên thờ thành hoàng làng, chùa thờ Phật.
Căn cứ vào lời kể của các cụ cao niên trong làng cùng bản thần phả của làng Ngọc Phúc thì miếu Vườn Nở là nơi thờ đức Thánh Từ Đạo Hạnh và Thánh Mẫu cuộc đời và hành trạng của Ngài được ghi chép khá kỹ trong nhiều sách cổ như Thiền Uyển tập anh, Lĩnh Nam Chích quái hay Việt điện U linh, cùng truyền thuyết dân gian vùng xứ Đoài. Có thể thấy trong lịch sử văn hoá Việt Nam, nhân vật Từ Đạo Hạnh là một người đặc biệt mang nhiều nét đặc biệt thú vị. Ngài vốn là nguời tiểu xử rõ ràng minh bạch, có tên huý, tên cha, tên mẹ và quê hương bản quán rõ ràng, vậy mà lại được dân gian khoác cho lên mình những huyền tích bí ẩn như một vị thánh Từ. Người có nhiều phép thần thông rồi thác sinh làm vua Lý Thần Tông (1128 - 1138), sau còn hậu Lê Thần Tông (1619 - 1643). Ngài là Tăng, là Phật, là vua và được nhân dân coi là tổ sư của nghệ thuật múa rối nước truyền thống Việt Nam.
Đức Thánh vốn họ Từ, tên Lộ, tự là Đạo Hạnh, Cha tên là Vinh, làm chức tăng quan đô sát ở triều Lý thường qua chơi làng An Lãng, lấy con gái người họ Lỗ tên là Loan, nhân thế ở tại đó. Lộ tức là con của bà họ Lỗ vậy. Thủa thiếu thời thích giao du hào hiệp, phóng khoáng, có chí lớn, hành động ngôn ngữ không ai có thể bì kịp được, thường cùng kẻ nho mãi sinh đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người con hát là Phan Ất kết bạn, đêm thì mải miếu đọc sách, ngày thì thổi sáo, đã cầu, vui sự chơi bời, cha mẹ thường trách là trễ nải, một đêm ghé dòm qua khe cửa vào trong phòng thấy ngọn đèn gần tàn, sách vở chồng chất. Lộ gục xuống án mà ngủ, tay vẫn không dời cuốn sách. Do đó cha mẹ không phải lo nghĩ gì nữa, Sau Lộ dự kỳ thi tăng hương thì đỗ khoa Bạch hiên. Không bao lâu cha dùng tà thuật làm phật ý Diên Thành hầu, Diên Thành sai Đại Điện thiền sư dùng pháp thuật đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch, xác trôi đến cầu An Quyết, đến trước của nhà Diên Thành Hầu, đột nhiên đứng dựng lên ở đấy suốt một ngày không đi.
Diên Thành hầu sợ hãi nói với Đại Diên, Đại Diên đến và hét lên rằng: “Người đi tu không được phép giận quá một ngày”. Dứt lời thấy thây đổ xuống mà trôi đi. Lộ nghĩ tới việc báo thù cho cha song chưa nghĩ ra mưu kế. Một hôm Đại Điện ra ngoài, gây sự định đánh, bỗng nghe thấy trên không trung có tiếng thét ngăn lại. Lộ sợ hãi quăng gậy mà đi. Muốn sang chùa Án Quốc cầu phép lạ để đánh Điện, đường đi qua Rợ Kim Bí (răng vàng) thấy hiểm trở bèn quay về, ẩn cư ở núi Phật Tích, thường ngày đọc kinh Đại bi đà la. Đọc chọn mười vạn 8 ngàn lần. Một hôm thấy thần nhân đến trước mặt nói rằng: “Kẻ đệ tử túc là Trấn Thiên Vương, cảm phục thay có công từ kinh lên lại đây để thầy sai khiến:. Lộ biết là đạo Pháp đã thành thù cha có thể rửa, bèn thân đến cầu An Quyết, cầm cây gậy chống ở trên tay ném xuống dòng nước chảy xiết. Gậy đi ngược dòng nước, tới cầu Tây Dương thì dừng lại. Lộ mừng nói rằng: Phép của ta thắng được Đại Diên rồi, bèn đến thẳng chỗ Diên ở , thấy Diên nói rằng: “mày không nhớ chuyện ngày trước sao. Nói rồi nhìn lên không chung, tịnh không thấy gì, bèn đánh liền. Diên phát bệnh mà chết. Từ đó, thù xưa đã rửa, tục lại nguôi dần đi tu ra các miền rừng rú để tìm dấu Phật. Theo Trí huyền ở đại Bình Hoá, bè cung kính tới báo yết và hỏi về chân tâm. Huyền bèn đọc bài kệ . Lộ đâm gia hoang mang chưa hiểu hết. Bèn đi tới chùa Pháp Linh sơn yết kiến phạm hối Thiền sư: : Như thế nào là chân tâm. Phạm nói “A Nan cả chính là chân tâm” . Lộ bỗng nhiên tỉnh ngộ hỏi rằng “Thế bài là Pháp hành thục. Phạm nói “Đói thì ăn, khát thì uống”. Lộ bái từ mà đi. Từ đó phép lực ngày càng mạnh, duyên thiền càng kết. Các giống rắn núi, thú đồng đến quấn quýt quanh mình. Lộ đốt ngón tay cầu đảo, chú phép vào nước trị bệnh, không lúc nào không nghiệm. Cso vị sư hỏi rằng: “Phải chăng, hành, trụ, toạ, ngoạ đều là chân tâm” Lộ đọc bài kệ đáp rằng:
Nhật Nguyệt xuất nham đầu
Nhân nhân thất hoả châu
Quy nhân hữu cần tử
Hành bộ bất kỵ câu
Khi ấy vua Nhân Tôn không có con, cầu tự mãi mà không được. Sau khi được Sùng Hiến hầu xin tha cho tội chết, Lộ muốn trả ơn bèn xin đầu thai làm con để sau được làm vua. Sùng Hiến hầu đồng ý, Một hôm khi phu nhân đang tắm, thấy Lộ để bóng trong thùng nước bèn giận quá mách với Hiền hầu. Hầu vốn hiểu ý để mặc không nói gì, phu nhân vì thế có thai. Lộ lại dặn Hầu rằng, đến lúc phu nhân sinh nở kíp báo cho biết trước. Đến khi lâm bồn. Lộ được người báo tin, bèn tắm rửa thay quần áo, bảo học trò rằng: “Mối túc nhân của ta chưa hết, phải thác sinh lần nữa ở đời, tạm làm đế vương, kịp đến khi già chết làm nhị thập thiên tử. Nếu thấy thân thể ta tan ra đất, đó là ta đã nhận vào bùn đất không còn ở trong cõi sống chết nữa”. Học trò nghe nói, ai cũng cảm động sụt sùi. Lộ đọc bài kệ rằng:
Thu lai bất hoá nhạn qui lai
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi
Vị báo muôn dân lưu luyến trước
Cố sư kỉ độ tác kim sư
Dứt lời nghiễm nhiên mà hoá. Hầu phu nhân sinh người con trai tên là Dương Hoán, khi lân la, được vua nuôi ở trong cung, lập làm hoàng thái tử, sau là vua Lý Thần Tông.
Chính vì vậy di tích miếu Vườn nở thôn Ngọc Phúc đã tạo dựng lên để thờ vị thần Từ Đạo Hạnh là vị thần có công ttong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là y thuật, nông nghiệp văn hoá và nghệ thuật. Ông dạy dân chữa bệnh bằng thuốc nam, giúp dân làm mùa màng thuận lợi hơn, và được coi là ông tổ nghề chèo vì đã phát triển nghệ thuật chèo, đào tạo những nghệ sĩ chuyên nghiệp đầu tiên.



