Nghệ thuật hát tuồng Cổ Loa
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Tuồng – còn gọi là hát bội, hát bộ – là loại hình nghệ thuật sân khấu bác học của người Việt. Nhưng ở một góc làng ven thành Cổ Loa, tuồng không chỉ là sân khấu. Đó là hơi thở của những người đã đem lòng yêu nó cả chục năm, có người đến hơn bốn mươi năm.
Theo các tài liệu ghi lại, nghệ thuật hát tuồng ra đời khoảng thế kỷ XVII, do ông Đào Duy Từ phát triển từ diễn xướng dân gian lên sân khấu tuồng. Xưa, tuồng được biểu diễn trong cung đình, là trò giải trí mua vui cho tầng lớp quý tộc; đến thế kỷ XVIII, tuồng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở đàng Trong, cả trong dân gian và cung đình.
Ở Cổ Loa, hiện có hai câu lạc bộ tuồng – CLB Tuồng cổ Thành Loa và CLB Tuồng truyền thống Loa Thành. Hai câu lạc bộ có trên 50 thành viên, độ tuổi từ 40 đến 80, hoạt động theo nguồn xã hội hóa, dưới sự chỉ đạo chuyên môn của UBND xã Đông Anh. Điều đáng nói là 100% thành viên có thể vừa hát vừa diễn.
Tuồng là nghệ thuật nặng về vũ đạo. Người diễn viên phải vừa hát vừa thể hiện chính xác động tác; phải phát âm rõ ràng, tròn chữ, không nói ngọng, không biến âm. Kỹ thuật hát nổi bật của tuồng là “nói lối”. Các làn điệu mà câu lạc bộ còn lưu giữ gồm: nói lối, hát tẩu, hát nam, nam ai – nam xuân, ất khách, bạch sương, 1-2-3 nhịp 3 người, thán, thán bắc.
Các vở câu lạc bộ đang biểu diễn có: Tình sử Loa Thành, San Hậu, Lý Hoài Hiền giáo tử, Đào Tam Xuân loạn trào, Bách đao từ Hải Thọ, Tô Hoài Phụng, Bao Công trảm Quách Hoè, Lưu Tuần Định – Lưu Tuần Nghĩa, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền xưng vương, Trần Quốc Toản ra quân. Trong đó, “Tình sử Loa Thành” và “Hai Bà Trưng” là những vở gắn với lịch sử, văn hóa của vùng đất và của dân tộc.
Với tuồng, chỉ cần nhìn trang phục và khuôn mặt là khán giả biết nhân vật ấy là ai. Vua mặc long bào vàng thêu rồng năm móng, đội mão cửu long; hoàng hậu mặc áo thêu phụng, đội mão cửu phụng sơn son thiếp vàng. Quan tứ trụ mặc mãng màu tím, lam hay lục đậm; nịnh thần mặc mãng màu đen. Quan văn đội mão đỏ, quan võ đội mão đen; tướng ra trận đội mão kim khôi, tướng phản diện kim khôi đen, tướng chính diện kim khôi xanh hoặc trắng.
Râu ria cũng là một thứ ngôn ngữ: nhân vật chính diện thường mang râu đen dài hoặc râu bạc dài; võ tướng mang râu ba chòm đen dài, râu liên tu bạc; loạn thần mang râu đen ngắn; nhân vật nóng nảy mang râu quăn. Mặt nạ – tức trang điểm mặt – cũng phân biệt rõ: nhân vật chính diện thường mặt trắng hồng; nhân vật văn pha võ mặt đỏ; nịnh thần, phản diện mặt màu mốc (trắng bợt) hoặc đỏ bầm. Việc trang điểm vì thế rất tỉ mỉ, tốn nhiều thời gian.
Dàn nhạc gồm trống chầu (trống lớn nhất, mở đầu buổi diễn và đệm cho diễn viên hát), trống chiến, trống lệnh, thanh la, cồng, mõ, kèn, nhị… Trong đó, kèn là nhạc cụ quan trọng nhất, thể hiện tính bi hùng của tuồng và đưa vở diễn lên cao trào. Đạo cụ có roi ngựa, song kiếm, trường thương, độc phủ, song chày, kích, đại đao…
Theo bà Nguyễn Thị Huệ – Phó Chủ nhiệm CLB Tuồng cổ Thành Loa, tổ tuồng được thờ tự hết đời này sang đời khác, không rõ từ bao giờ. Tại nhà riêng của bà hiện có khám thờ tổ nghiệp tuồng, sắc phong là Nhị vị tướng quân (Đông Phương Sóc). Trong khám là hai con búp bê gỗ mặc áo vải; mỗi năm cứ đến ngày giỗ tổ, bà lại thay quần áo mới cho hai con búp bê.
Người xưa kể lại rằng đó là hai anh em mê hát tuồng, trốn nhà tới rạp xem hát, khuya ngủ quên rồi chết cóng trong rạp mà không ai hay. Cũng có người nói đó là hai hoàng tử con vua, mê xem hát nên trốn đi xem, đường đông nên bị xéo chết. Bởi vậy, đào kép coi hai ông là tổ nghề tuồng và lập đàn thờ, với mong muốn được thành công khi biểu diễn. Cụ Nguyễn Văn Viển – người tiền bối có vai trò quan trọng trong sự phát triển của tuồng Cổ Loa, sau khi qua đời cũng được các thành viên trong câu lạc bộ thờ cúng.
Khi biểu diễn ở đền, đình trong ngày hội, mỗi diễn viên trước lúc ra sân khấu đều bái vọng tổ, mong tổ nghề phù hộ cho buổi diễn thành công. Nghề có những điều kiêng kỵ riêng: diễn viên không xoa tay lên mặt trống, không ăn mía trong phòng hóa trang. Lễ cúng tổ nghề diễn ra vào ngày mùng 10 tháng 3 và ngày 12 tháng 8 âm lịch hằng năm.
Khán giả chủ yếu là các cụ cao tuổi trong thôn, trong xã. Các thành viên chỉ dạy cho nhau trong các buổi tập; ai là khán giả mê tuồng muốn theo học thì liên hệ với diễn viên, sẽ được dạy miễn phí. Chuyên môn hầu như không thay đổi, chỉ có trang phục là đa dạng và nhiều màu sắc hơn.
Những người giữ nghề nêu rõ mong muốn: tổ chức truyền dạy bài bản; phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho người cao tuổi có công gìn giữ; các cấp chính quyền, đoàn thể quan tâm cả vật chất lẫn tinh thần; tăng cường tuyên truyền để mọi tầng lớp hiểu giá trị của tuồng. Bởi theo họ, các tích tuồng thấm nhuần tư tưởng đạo đức, nhân văn của cha ông nên có tính giáo dục cao; nếu tuồng bị mai một thì thật đáng tiếc.



