NHÀ THỜ ĐỖ TÚC KHANG
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Nội dung bài viết
Câu chuyện điểm đến
01NHÀ THỜ DANH NHÂN TIẾN SĨ ĐỖ TÚC KHANG
02Địa điểm hiện nay: Thôn Giao Tác, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội.
Nhà thờ danh nhân Tiến sĩ Đỗ Túc Khang là di tích gắn với cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp của Tiến sĩ Đỗ Túc Khang đối với quê hương, đất nước; đồng thời là nơi lưu giữ truyền thống lịch sử, văn hóa và đạo lý uống nước nhớ nguồn của dòng họ Đỗ. Di tích được xếp hạng di tích Quốc gia theo Quyết định số 34 VH/QĐ ngày 09/01/1990.
Theo lý lịch di tích, nhà thờ gốc họ Đỗ nằm tại khu vực Ngõ Ba, trung tâm làng Quậy Rào xưa, nay thuộc thôn Giao Tác, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Khu vực này vốn là nơi gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Đỗ cũng như lịch sử lập làng Quậy Rào. Từ thế kỷ XIV trở về trước, vùng đất này được xác định là những thửa ruộng trồng lúa, hoa màu; địa hình phần lớn là đất thịt, trũng và lầy. Quậy Rào nằm về phía nam so với Quậy Cả, ba phía là đồng trũng, là nơi lập làng muộn hơn và từng được xem là một trong ba thế chân kiềng thuận lợi cho việc tổ chức chiến đấu bảo vệ xóm làng. Vùng đất này cũng có nhiều dòng nước tập trung về vào mùa mưa, thường gây úng lụt, vì vậy việc đắp đê, khơi ngòi, chống úng, giữ nước đã trở thành công việc thường xuyên của người dân trong quá trình xây dựng quê hương.
Theo gia phả Đỗ Đại Tôn, năm 1518, Tiến sĩ Đỗ Túc Khang đã lập làng Quậy Rào. Ban đầu, khu vực này chỉ có các gia đình họ Đỗ cư trú; về sau, do dân số phát triển, các họ Lê, Nguyễn từ Quậy Cả và một số gia đình họ Phạm, họ Ngô từ các làng lân cận đến sinh cơ lập nghiệp. Cùng với nghề trồng lúa nước, người dân nơi đây còn phát triển nhiều nghề thủ công truyền thống như mộc, nề, sơn, chạm. Trong đó có nhiều người họ Đỗ là những thợ có tay nghề, góp phần tạo dựng các công trình kiến trúc của địa phương.
Lịch sử hình thành làng Quậy Rào gắn với quá trình cư trú của dòng họ Đỗ trên vùng đất này. Theo gia phả, năm 1418, cụ Đỗ Chấn đến dạy học ở Quậy Cả và lập cơ ngơi tại xứ Đồng Rùa. Năm 1428, cụ Đỗ Tử Lỗi, con cụ Đỗ Chấn, được phép của dân làng vào khu đất chùa xưa để lập làng Tác Vĩ thuộc xã Hà Vĩ, tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, đạo Kinh Bắc. Đầu năm 1518, Tiến sĩ Đỗ Túc Khang, là cháu cụ Đỗ Tử Lỗi, nhận thấy khu vực Vườn Trên có vị trí thuận lợi nên chuyển đến khu vực Ngõ Ba ngày nay để lập làng, nối liền với đình Hà Vỹ và Quậy Cả. Ban đầu khu vực này được rào giậu nên có tên là Quậy Rào, về sau còn gọi là thôn Giao Tác.
Trong lịch sử hành chính, địa danh này từng trải qua nhiều lần thay đổi. Trước năm 1945, Quậy Rào, tức thôn Giao Tác, thuộc xã Hà Vỹ, tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; năm 1949, Hà Vỹ cùng Ngũ Hà thành lập xã Liên Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; đến năm 1961, xã Liên Hà được chuyển về huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Hiện nay, thôn Giao Tác thuộc xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Trong dân gian, nhân dân ba làng Quậy và nhân dân quanh vùng thường gọi Tiến sĩ Đỗ Túc Khang bằng tên thân mật “cụ Nghè Rào”, để ghi nhớ công lao của ông đối với việc lập làng Quậy Rào.
Tiến sĩ Đỗ Túc Khang là con trưởng của cụ Đỗ Hoan. Ông sinh năm Canh Dần 1470, trong thời kỳ thịnh trị của triều Lê dưới thời Lê Thánh Tông. Cha ông làm nghề dạy học, mẹ là Phạm Quý Thị. Theo lý lịch di tích, Đỗ Túc Khang từ nhỏ đã hiếu học, thông minh; năm 1492 thi Hương đỗ “Tam trùng”, năm 1496, khi 27 tuổi, thi đỗ “Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân”, niên hiệu Hồng Đức thứ 27.
Truyền thống khoa bảng tiếp tục được phát huy trong gia đình. Các em trai của Đỗ Túc Khang cũng có người đỗ đạt cao. Năm 1499, Đỗ Đại Uyên thi đỗ tiến sĩ, Đỗ Túc Khiêm thi đỗ Thám hoa; năm 1503, Đỗ Danh Túc, tức Đỗ Vinh, thi đỗ tiến sĩ và làm quan Thượng thư. Người em Đỗ Viên Nghị được triều đình phong chức tước cao. Truyền thống hiếu học của dòng họ tiếp tục được các thế hệ con cháu kế thừa, với phương châm được ghi nhận trong lý lịch là “Hiếu học, thông minh – làm việc vì nước, trọn tình với dân”.
Sau khi đỗ tiến sĩ, Đỗ Túc Khang được triều đình bổ nhiệm và trải qua nhiều chức vụ. Từ năm 1498 đến năm 1527, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí như Chi huyện phủ Thủy Đằng, Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, Kim ngô vệ đoan sự, Hiển sát sứ đạo Hưng Hóa, Hiển sát sứ đạo Sơn Lam và Lưu tướng quân Kim ngô vệ đoan sự. Trong quá trình làm quan, ông được giao tham gia dẹp loạn tại nhiều địa phương. Lý lịch di tích ghi nhận ông đã tham gia dẹp loạn ở đạo Kinh Bắc trong những năm 1515–1527, góp phần giữ gìn sự yên ổn và cuộc sống của nhân dân.
Không chỉ có đóng góp với đất nước, Đỗ Túc Khang còn có nhiều đóng góp đối với cộng đồng dân cư Hà Vỹ. Năm 1520, ông cùng nhân dân xây dựng đình Hà Vỹ, từ cơ sở miếu chuyển sang xây dựng đình thờ năm vị thánh theo thần tích. Sau đó, ông đề xướng xây dựng lệ làng theo nguyên tắc “Mọi việc làng do dân quyết, trọng tuổi hơn trọng tước, thông qua các giáp tổ chức thực hiện”. Các quy định đề cập đến trách nhiệm bảo vệ xóm làng, việc thưởng cho người bắt được trộm cướp, chăm lo người bị thương, tổ chức mai táng người tử vong, phân công việc làng theo tuổi và tổ chức các hoạt động lễ hội, sản xuất nông nghiệp.
Theo lý lịch di tích, Đỗ Túc Khang còn trực tiếp sáng tác, ghi chép các văn bản liên quan đến sự tích thần đình Hà Vỹ, hương ước, lệ làng, văn tế và các văn kiện khác. Những tư liệu này được đánh giá là có giá trị về lịch sử và văn học, góp phần lưu giữ những phong tục, tập quán và quy định của cộng đồng dân cư Hà Vỹ qua nhiều thế hệ.
Một nhân vật quan trọng khác gắn với dòng họ là Đỗ Thị Mai, con gái Tiến sĩ Đỗ Túc Khang, sinh năm 1507. Theo lý lịch di tích, bà từ nhỏ đã học chữ, hiểu binh thư và biết võ nghệ. Năm 1527, trong bối cảnh triều Mạc thay thế triều Lê, Đỗ Túc Khang vẫn được sử dụng và được giao nhiệm vụ dẹp loạn. Ông đã cử con gái Đỗ Thị Mai, khi đó khoảng 20 tuổi, đem quân đi dẹp các nhóm trộm cướp gây nhiễu loạn tại nhiều địa phương. Năm 1528, bà mất tại sông Trấn Giang.
Để tưởng nhớ công tích của Đỗ Thị Mai, nhân dân địa phương đã lập đền thờ bà. Trong dòng họ Đỗ ở ba làng Quậy và các nơi khác, bà được gọi thân mật là “Bà Cô” và được thờ tại nhà thờ Đỗ Đại Tôn, tức nhà thờ danh nhân Đỗ Túc Khang. Tại đây có tượng thờ bà cùng bức hoành phi “Nữ tướng nhất nhân”. Theo lý lịch di tích, đến năm 1911, dưới triều vua Duy Tân, bà được ban tên Mỹ Mai và sắc phong “Diên bình công chúa”.
Nhà thờ Đỗ Đại Tôn, hay nhà thờ danh nhân Đỗ Túc Khang, vốn có hướng Tây, sau do xuống cấp và không thuận nên được chuyển sang hướng Đông. Theo lý lịch di tích, vị trí nhà thờ có phía trước là ngòi nước, hai bên có gò lũy và phía sau là nền đất cao, được mô tả theo quan niệm phong thủy truyền thống là thế đất thuận lợi. Ngoài nhà thờ chính còn có các nhà thờ của những chi họ. Tuy nhiên, vào những dịp giỗ, Tết, lễ tiết quan trọng và các hoạt động chung của toàn dòng họ, việc tổ chức vẫn tập trung tại nhà thờ Đỗ Đại Tôn, tức nhà thờ Đỗ Túc Khang.
Mộ của Tiến sĩ Đỗ Túc Khang theo tư liệu được cải táng tại khu vực Đồng Rùa, là nơi gắn với những bước đầu cư trú của dòng họ Đỗ. Mộ được đưa vào khu mộ chung của dòng họ và đến nay con cháu vẫn duy trì việc tưởng niệm tại đây.
Nhà thờ còn là nơi duy trì những phong tục, quy định truyền thống của dòng họ. Theo gia phả Đỗ Đại Tôn, đất đai và nhà thờ do tiên tổ để lại, việc quản lý và bảo quản thuộc trách nhiệm của dòng họ, trưởng họ có trách nhiệm trông nom và đề xuất sửa chữa. Trước đây, các chi họ có ruộng hương hỏa, ao vườn để tạo nguồn hoa lợi phục vụ việc thờ cúng; việc sửa lễ trong họ được thực hiện theo thứ bậc tuổi tác.
Hằng năm, ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch là ngày giỗ Tiến sĩ Đỗ Túc Khang. Theo truyền thống được ghi trong lý lịch, tối ngày mùng 6 tổ chức cúng cáo, hát thờ ca trù hoặc diễn tuồng; ngày mùng 7 tổ chức lễ kỷ niệm, tế lễ và đọc văn kể lại công đức của Tiến sĩ đối với dân làng và đất nước. Việc tổ chức do cành trưởng chủ trì, có đại diện các cành trong dòng họ cùng tham gia.
Nhà thờ danh nhân Tiến sĩ Đỗ Túc Khang vì vậy không chỉ là nơi tưởng niệm một danh nhân khoa bảng mà còn là không gian lưu giữ lịch sử hình thành làng Quậy Rào, truyền thống khoa bảng của dòng họ Đỗ và những phong tục, quy ước được truyền lại qua nhiều thế hệ. Di tích đồng thời phản ánh mối liên hệ giữa nhân vật lịch sử với quê hương, cộng đồng dân cư và dòng họ trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển vùng đất.
Ngày nay, Nhà thờ danh nhân Tiến sĩ Đỗ Túc Khang tại thôn Giao Tác, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội tiếp tục là địa điểm để hậu thế tưởng nhớ, tri ân Tiến sĩ Đỗ Túc Khang và các bậc tiền nhân, đồng thời góp phần gìn giữ và phát huy truyền thống hiếu học, đạo lý uống nước nhớ nguồn và những giá trị lịch sử, văn hóa của quê hương.



