Trong quá trình sinh sống và phát triển, nhân dân Kinh Xá xưa và Cấn Hạ nay đã sáng tạo, xây dựng những công trình văn hóa phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh, tiêu biểu là ngôi đình Cấn Hạ - một ngôi đình có giá trị kiến trúc điển hình, độc đáo, truyền thống của đình làng Bắc Bộ đã được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố vào năm 2012. Chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) là ngôi chùa làng, ngôi chùa nguyên thủy được xây dựng công phu vào thời Lê, thế kỷ 16. Bên cạnh đình và chùa, Nhân dân Cấn Hạ cũng kiến tạo những công trình tôn giáo, tín ngưỡng khác. Trước năm 1945, trong làng còn tồn tại nhiều công trình văn hóa tâm linh như: chùa, văn chỉ, quán quán, nghĩa đàn và các công trình phục vụ đời sống như: cầu, điếm canh, cổng làng cổng xóm,... đặc biệt còn có phần mộ và bia công đức ghi chép về bà Hậu – người đỡ đẻ cho hổ ở gò Bốn Trên.
Làng xưa có 7 giếng cổ nay chỉ còn lại 4 giếng (giếng Chợ, giếng Lom, giếng Thiếc và giếng Găng). Nhưng chỉ có giếng Chùa là nước ngon, ngọt nhất; còn 3 giếng là giếng Trai, giếng Sổ, giếng Khoắt không còn tác dụng nên đã bỏ.
Cùng với quán Cấn Hạ, làng có 4 quán thờ ở các phường. Quán thờ vị thần trông coi giữ gìn sự bình yên của xóm làng. Là nơi người dân đến lễ bái cầu an, cầu tài cầu lộc.
Quán vườn hỏi: Cổ phả họ Nguyễn Khắc viết năm Tự Đức thứ 34 ghi: Hương hoả có 1 sào đất để cho phường trích dục, quán tại bản chi thờ phụng. Đông giáp vườn ao, Tây giáp đường làng, Nam giáp đường cái lớn, Bắc giáp nhà Văn Giáo. Nay quán này còn tồn tại ở trong diện tích đất ở gia đình ông Nguyễn Văn Chính đội 1.
Quán Giếng Sổ: thuộc phường giữa chỗ trước cửa nhà ông Nguyễn Hữu Lộc (Giói) nay không còn dấu tích. Quán có linh tự là Ngô Văn Sắc và Nguyễn Thị Tín.
Quán Phường trước chỗ sân trạm bơm cuối làng là quán Phù Đồng thờ vị thần trông coi giữ gìn đồng ruộng. Nay gia đình ông Bùi Văn Trí lập quán tại gia đình.
Quán cổ Gáo xóm Thiếc hiện còn tồn tại nhưng đã bị lấn chiếm không có cảnh quan.
Quán Cấn Hạ thờ cúng 3 vị thành hoàng của thôn lần lượt là Quý Trâu thành bản thổ; Đệ Nhất Trung Á Đại vương và Đệ nhị Trung Á Đại vương.
Dựa vào thần phả thành hoàng làng đình Cấn Xá Hạ, các đạo sắc phong còn lưu giữ tại đình và thông tin từ lời hồi cố của các cụ cao niên trong làng và cuốn “Lịch sử đình làng Cấn Hạ - do ban khánh tiết làng Cấn Hạ biên soạn năm 2015, có thể tóm lược lịch sử của ba vị thành hoàng như sau:
Trưng Nữ Vương Triều có hai vị tướng được thần linh phù trợ phò Bà Trưng đánh giặc.
Một vị Đại Vương Trung Đẳng Thần chép trong thần phả ở một chi của họ Cấn Xá, Bộ Lại Thượng Thư triều đình chép bản chính.
Từ xa xưa nơi núi thâm thanh tổ Hùng Vương mở vận gây dựng cơ đồ hơn 20 năm. Vua Hùng Vương kiến thiết đất nước, núi xanh muôn dặm. Dùng kinh đô, xây thành đắp lũy hao sáu nước biếc. Có vua minh đức độ, có đạo luật cương minh. Thống nhất sơn hà chia nước làm 15 bộ là triều tổ của Bách Việt có thơ rằng:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Thống nhất sơn hà thập bát vương
Ngã quốc truyền chi tiên cổ hậu
Ức niên hương hoả ức niên phương
Dịch nghĩa bài thơ:
Nước Việt Nam mở đầu từ thời Kinh Dương Vương
Đất nước thống nhất trải 18 đời (chị họ) vua
Truyền đời ở nước ta từ hàng ngàn năm nay
Ngàn vạn năm sau vẫn còn hương khói
Ngàn vạn năm còn lưu tiếng thơm
Lại nói: Trải suốt thời Hùng Vương, ý trời đã định, chẳng có can qua chinh chiến. Tuy nhiên, đến thời Hùng Vương thứ 18, Thục Phán thủ lĩnh của các bộ lạc Âu Việt đã đánh bại vị vua Hùng cuối cùng của nhà nước Văn Lang, sáp nhập 2 bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt thành một bộ tộc chung. An Dương Vương cai trị cho đến khi thất bại trong cuộc chiến chống quân Nam Việt vào năm 179 TCN và phải tự sát, từ đó nước ta bước vào thời kì đô hộ đen tối của phương Bắc.
Nước Nam ta vốn là một dân tộc anh hùng, đâu chịu mất nước, đâu chịu làm nô lệ. Thế nên hàng loạt cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ đã diễn ra, và tiêu biểu nhất trong số đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40 (SCN).
Vào khoảng trước thời gian đó tại đường Thanh Hoa phủ Thiệu Thiên huyện Lương Giang làng An Tràng có ông Đặng tên Quang, vốn là con nhà gia giáo lại có tiếng về nho học.
Ông đến đường Sơn Tây phủ Quốc Oai huyện Ninh Sơn sau đổi là An Sơn làm thầy dạy học ở làng Kinh Xá Hạ, sau đổi là làng Cấn Xá. Trải mấy năm chọn được người vợ có đức hạnh hiền hòa tên là Bạch Thị Trọng. Thế rồi vợ chồng chăm chỉ làm việc thiện, tuy thế mà vợ chồng chung sống đã lâu, ông 60 tuổi, Bạch Thị cũng đã ngoài 40 mà vẫn chưa có lấy một lần sinh nở.
Bấy giờ ở Kinh Xá Hạ, sau đổi là Cấn Xá có một ngôi đền thiêng rất là linh ứng. Rồi vợ chồng liền sắm lễ vật đến đền làm lễ cầu tự. Đêm hôm ấy vợ chồng nằm ngủ trưa ăn. Một lúc chợt mộng thấy một người mình khoác áo đỏ hiện ra tự xưng: “Ta vốn là quan thổ thần mà bảo rằng: Làng nhà ngươi có đức, trời đã soi xét, biết về sau này sẽ sinh đôi nam tử, vốn là thần linh ở đình đền đâu thai, lại nối lại sinh ra ở đời là để giúp nước.”
Ông chợt tỉnh lại, biết là người thần, linh ứng báo mộng như vậy. Định rằng bà tái rồi sẽ đẻ. Quả nhiên từ làng Cấn Xá, ngước lên trời thấy một đám mây lành hướng tới Bạch Thị mà sa thấp xuống, khiến cho vợ nằm trùm ẩn ở trước quán, cầu xin. Tự nhiên thấy có ánh hào quang chớp sáng lóe trên người Bạch Thị. Bạch Thị sợ quá nằm nghiêng lo lắng thiếp đi, chợt mộng thấy 2 nam nhi từ bên đường theo đến, mà lại tự xưng là linh tướng quân phụng mệnh thiên đình, giáng sinh đầu thai làm con một vương ở hạ giới.
Bạch Thị tỉnh lại, bàng hoàng sắc mặt tái đi, lấy làm việc kỳ lạ. Rồi 2 ông bà trở về học đường đã thấy Bạch Thị có thai từ đó.
Giờ Ngọ ngày 20 tháng 5 năm Nhâm Ngọ sinh ra một cái bọc có 2 con trai. Tư chất thiên bẩm khác thường, mặt mày sáng láng. Ông biết là người thần đầu thai mà sinh ra vậy. Không phân biệt được ai là anh, ai là em. Ông liền mệnh danh Đệ Nhất Trung Á và Đệ Nhị Trung Á.
Hai ông lên 7 tuổi vẫn học đã tinh thông tài trí võ nghệ. Vậy là trời đã ban cho họ phúc hậu trùng lai. Ngày qua tháng lại, 2 ông đã 16 tuổi tư chất được cao xa.
Nhưng chao ôi! Sự biến đổi khôn lường, phúc họa vô đơn chí, chỉ trong một đêm mà thân phụ Đặng Công với mẫu Bạch Thị cùng nhau mà mất vào ngày 14 tháng giêng năm Mậu Tý. Hai ông bèn chọn đất tốt làm lễ an táng, đèn nhang thờ phụng ở học đường theo như nghi thức cho hết 3 năm mãn tang. Hai ông noi theo nghiệp học của cha đã quán thông ở làng Cấn Xá Hạ. Các phụ lão lại đón 2 ông về làm thầy giáo làng dạy học cho dân. Nam nhi sỹ tử nơi theo đến học rất đông. Hai ông biết mới hỏi rồi bảo với các phụ lão rằng: Từ ngày trước cha mẹ ta đã để lại anh em ta, vốn là thần làng phụng sự, việc ấy ứng mộng sự thể ra sao?
Các phụ lão đáp rằng: Hai ông là thần làng, sinh ra ở đời có đại thánh thần, hùng uy nổi dậy, cử binh đến đánh giặc, ắt có các nữ tướng soái binh thần linh phát động trợ giúp.
Nói trở lại việc Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời.
Ngày mồng 4 tháng 9 năm Kỷ Hợi (39), Trưng Trắc và Trưng Nhị tập hợp các tướng lĩnh cùng nhau làm Hội thề ở bãi đá Tràng Sa, cửa sông Hát (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thuộc huyện Mê Linh thời đó. Tại Hội thề, Trưng Nữ mật cáo với thần núi Tản Viên Sơn Thánh Tổ, hội họp Bách Thần. Văn tế rằng:
Trời sinh ra con người, cùng với muôn loài dòng giống sinh linh, cho đến từng loài cây cỏ cùng có mối liên quan với nhau. Trải qua các thế hệ các triều đại đế vương từ bao đời trước trời đất đã định phận. Triều đình có đạo thương yêu dân chúng, chăm lo việc nước, lấy đức mới cảm hoá cho muôn dân. Thiên hạ thái bình, quốc gia yên ổn. Thì nay có người họ tên khác lạ, gọi là Tô Định như loài chó dê. Thường quen thói lộng hành, thích sao làm vậy ngông cuồng hết sức tàn bạo.
Rồi Trưng Nữ sai mổ trâu bò cáo tế trời đất núi sông bách thần, khao hưởng bản làng sỹ tốt.
Đêm hôm ấy 2 ông nằm ngủ ở đền thường mộng thấy một người dáng mạo y phục chỉnh tề đứng ở trong đền, tự xưng là đức bản thổ linh thần tự hiệu Quý.
Ngài bảo rằng: Tướng quân đem binh đi đánh giặc có thần linh ngầm giúp sức, về sau cùng được phối thờ là thần làng.
Hai ông tỉnh lại biết là mộng vậy, có có linh thần đến báo trợ giúp liền ứng khẩu đọc lên một bài thơ.
Quốc toản thuỳ tri thị thiếu niên
Lập công diệt tặc chí kham linh
Đãn trị tất thắng an ưu bại
Khởi sử trưng thổ thổ đạo huyền.
Dịch nghĩa:
Giúp nước ai biết được lại là thiếu niên
Lập công diệt giặc hăng hái xông lên
Chỉ biết ra quân là tất thắng
Hà nào Trưng Nữ sẵn có đạo quân diệu huyền.
Định ngày tốt 2 ông đem binh tiến đến đồn của Trưng Nữ để cùng hội quân, tự nguyện lãnh mệnh cầm quân đi đánh giặc.
Thế rồi Trưng Nữ tuyển chọn người tài giỏi ra giúp nước. Thấy 2 ông văn võ kiêm toàn lại có sức mạnh như thần. Trưng Nữ mừng lắm liền cử 2 ông làm tướng cùng với Trưng Nữ bàn tính mưu lược.
Thế là 2 anh em đương tuổi nam nhi, có tài thao lược, lại có thần linh trợ giúp. Nữ chúa ban bố lệnh, bốn bề cùng đồng tâm hợp lực.
Hai ông xuất quân người 1 vạn, ngựa khoẻ 3000 con. Lấy ở làng Cấn Xá Hạ mấy trăm người có sức khoẻ cường tráng và sỹ tử đi theo làm gia thần thủ túc phục vụ
Ngay ngày hôm ấy, 2 ông cùng hội họp các binh sỹ hào tể trong vùng cùng hơn 1 vạn dân binh cũng được đức bản thổ linh thần trợ thuận. Kết thành đội ngũ rất lớn mạnh chia đường tiến quân. Một mũi đánh trực diện, một mũi đánh thọc sườn, bao vây đồn quân Tô Định đại phá một trận, quân Tô Định thua chạy tán loạn.
Trưng Nữ chiếm được 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại rồi vạch chia lại bờ cõi nước Nam tự xưa. Trưng Nữ lên ngôi Hoàng Đế gọi là Trung Nữ Vương. Trưng Nữ liền phong công thưởng tước cho 2 ông, cấp ruộng đất, lập ấp ở Cấn Xá Hạ.
Hai ông liền tới bái ta rồi trở về An Sơn nhậm chức thiết lập doanh trại ở làng Cấn Xá Hạ. Hai ông tu sửa đền thờ đức bản thổ Quý Trâu Thành để ghi nhớ công ơn phù trợ của thần. Ngay ngày hôm ấy mở tiệc thiết yến mời các phụ lão sỹ tử cùng nhân dân đến uống rượu ăn mừng. Hai ông mới bảo với các phụ lão rằng:
“Nay ta được tất cả các tàn dân trong trời đất, thần nhân tỳ thiếp cho đến từng người con cháu nhà họ Hùng cùng góp sức phù trợ. Nay nhân tâu lên Hoàng Thiên, từ nay có lệ ngày để ghi nhớ công ơn những người đã có công với nước. Bày quân xanh, đỏ phục nghĩa binh trừ tàn, cầu nguyện bách vị chư tôn thần linh hội đàn soi xét giúp sức đề binh bảo vệ đất nước cứu dân. Khiến cho lấy lại được những thứ của các đời trước đã mất. Đặt để các sinh linh trên chiếu, cúng tế xong đem hoá rồi đổ tro tàn vào trong nước.
Sinh linh đã không phụ ý Hoàng Thiên, bình an quán tự tiên hoàng, an ủi linh hồn cha ông ở dưới chín suối, rồi kêu gọi hô hoán xuất trừ ngàn vạn quân tái truyền hịch ở nước nam ta.
Vương lần lượt đến đánh các đường châu huyện, lập tức các tướng tài bắt lấy bọn binh lính là nam đến theo giúp cho nữ chúa, bình được Tô Định, có công với nước về sau được gia phong thưởng tước cấp bổng lộc ruộng đất bảo vệ nhân dân.
Nhân dân gia thần sỹ tử, các họ rất trọng sự nghiệp lớn lao của 2 anh em mà di mệnh ức niên về sau thờ phụng phối thờ 3 vị là Thành Hoàng làng. Đặt để ruộng đất công 30 khoảnh làm hương hoả cúng tế.
Về sau Hán Mã Viện lại đem quân thiện chiến xâm lược nước ta. Nữ Vương lại lo việc chống giặc cứu nước. Liền ra khỏi đồn xuống tận trại lính khích lệ binh sỹ giữ gìn phép nước. Ngay ngày hôm ấy cử đội ngũ đến triệu 2 ông về triều.
Hai ông cùng Nữ Vương phân binh đại chiến với Mã Viện. Lần này thế giặc rất mạnh, Nữ Vương thất cơ chạy đến cửa sông Hát giang cùng đường gieo mình xuống sông tự vẫn. Để lại cho muôn đời sau tấm gương liệt nữ anh hùng bất khuất vì nền tự chủ nước nhà. Cổng thiên triều đã mở đón 2 bà trở về trời.
Nghe tin dữ, hai ông bèn ngửa mặt lên trời mà than rằng:
Than ôi! cơ đồ sự nghiệp của Trưng Nữ rực rỡ như mùa xuân giờ chỉ còn là giấc mộng.
Hai ông lên ngựa bay vào núi rồi không thấy đâu nữa tức là 2 ông đã hoá. Hôm ấy là ngày mồng mười tháng giêng năm Quý Mão, người đời ca ngợi là bậc trung thần không phò 2 vua. Nhân dân kính trọng cơ đồ sự nghiệp lớn lao của 2 ông trở về làm lễ tế, tu sửa đền thờ, bày thần hiệu thờ phụng.
Đến đời nhà Tống bên tàu niên hiệu Thái Bình sai tướng là Hầu Nhân Bảo đem 20 vạn quân, chia đường tiến binh xâm chiếm nước ta. Thời ấy vua Lê Đại Hành tự cầm quân cự chiến. Tiến quân đến đường Sơn Tây phủ Quốc Oai huyện Ninh Sơn. Trú quân ở đền thờ Cấn Xá Hạ. Vua liền làm lễ cầu xin thần linh phù hộ đánh giặc. Tấu phong là Trung Đẳng Thần rồi mới xuất chiến.
Quả nhiên toàn bộ quân giặc đã thua trận. Bọn quân tướng Hầu Nhân Bảo đều bị giết. Lại bắt được đại tướng giặc là Phụng Huân giải về kinh đô Hoa Lư mừng khải hoàn chiến thắng.
Tướng sỹ ta nhân đó mà bảo với nhau rằng: ta sớm bình được toàn bộ quân giặc cũng lại nhờ có thần linh ở đền phù trợ.
Sắc phong thần hiệu:
- Nhất phong Trung Á tế thế hộ quốc khang dân phù vận hậu đức chí nhân
hiển ứng Đại Vương.
- Nhất phong Đệ Nhị Trung Á tế thế hộ quốc thông minh diệu trí uy linh
cảm diệu hùng kiệt Đại Vương.
- Nhất phong Quý Trâu Thành bản thổ phúc thần dực phù hộ quốc dương
uy dũng của anh nghị minh thiết Đại Vương.
Lại nói: Đền thờ từ đấy đều thấy rất linh ứng nên có nhiều đế vương gia
phong mỹ tự “Trung Đẳng Phúc Thần”.
- Cho phép làng Cấn Xá Hạ tu sửa quán, sắm ỷ, xe kiệu thờ phụng các ngài. - Thờ phụng ngày sinh, ngày hoá của thần cùng với chuẩn y cho làng Căn Xá Hạ thiết cấm 7 chữ huý tự của thần là: Quang Trọng Trung Á Quý Trâu Thành.
Ngày sinh của thần: Ngày 20 tháng 5. Ngày hoá của thần ngày mồng 10 tháng giêng. Lễ mừng xuân thu nhị kỳ vào tháng 2 (ngày 11) và tháng 8 (ngày 11) vẫn theo lệ như trước.
Cả ba vị đều được các triều đại phong kiến, ban tặng sắc phong để ghi nhớ công lao và cho phép làng Cấn Hạ thờ phụng. Gồm 13 đạo sắc phong trải dài từ niên hiệu Cảnh Hưng (1783) là sớm nhất và muộn nhất là Bảo Đại (1924). Cụ thể như sau:
Quý Trâu Thành bản thổ gia tặng là Dực Bảo trung hưng chi thần vào năm Đồng Khánh Đinh Hợi – 1887.
Đệ Nhất Trung Á gia tặng là Hiển Ứng Bảo Quốc An Dân Hồng Ân Tế Thế Vĩnh Mệnh Thùy Hưu Thần Võ Hậu Phúc Hộ Thế Duệ Trí Thông Minh Hùng Tài Hồng Lược Chính Bình Phù Cương Hoành Viễn Hiển Khánh Diễn Phúc đại vương vào năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783)
Đệ Nhị Trung Á gia phong là Phu Hựu Chính Thống Thông Minh Tuy Lộc Diễn Phúc Diên Khánh Chí Nhân Cương Trực Mộ Dân Phù Đức Đoán Thế An Dân Trạc Thanh Cương Nghị Hiển Ứng đại vương.
Ghi trên bài vị đặt tại quán:
Quý Trâu Thành bản thổ được phong là “Quý Trâu thành bản thổ phúc thần dực bảo phù hộ quốc dương uy dũng cảm anh nghị minh triết đại vương”.
Đệ Nhất Trung Á được phong “(đệ) Nhất Trung Á tế thế hộ quốc khang dân phù vận hậu đức chí nhân hiển ứng đại vương”.
Đệ Nhị Trung Á được phong “(đệ) Nhị Trung Á tế thế hộ quốc thông minh tuệ trí uy linh cảm diệu hùng ? đại vương”.
4. Sự kiện cách mạng kháng chiến
Cấn Hạ là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng. Trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, Cấn Hạ sớm có phong trào hoạt động mặt trận Việt Minh và xây dựng cơ sở cách mạng, cơ sở kháng chiến. Quán Cấn Hạ nằm trên khoảnh đất chung với chùa Cấn Hạ hiện tại. Ngôi chùa Cấn Hạ trở thành căn cứ cho bộ đội và du kích hoạt động qua lại và bắt liên lạc; sư Ông - Ngô Quang Huấn trụ trì chùa Cấn Hạ cũng chính là một cán bộ hoạt động bí mật. Ngày 17/8/1945, ở Cấn Hạ có 50 người là đội viên cứu quốc tham gia cướp chính quyền huyện Quốc Oai. Sau đó, ngày 21/8 tham gia cướp chính quyền tỉnh Sơn Tây.
Trong chống Mỹ, nhân dân Cấn Hạ đã động viên trên 400 con em lên đường đánh Mỹ. Chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, năm 1965 ngôi chùa trở thành kho chứa vũ khí, quân dụng bí mật của đơn vị bộ đội.
Qua 2 cuộc kháng chiến có 58 người con hy sinh, trong số ấy có 1 Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Năm 2014, Nhà nước truy tặng đợt 2 đã có thêm 6 bà mẹ nữa.