Thành Cổ Loa
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Cổ Loa xưa vốn là một khu đất nằm ở đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng, là đầu mối giao lưu quan trọng cả đường thủy và đường bộ. Nơi đây có xóm làng và dân cư đông đúc. Dân cư chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và săn bắn. Việc dời đô từ trung du xuống châu thổ có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của dân tộc ta.
Theo sử cũ và lưu truyền trong dân gian, thành được xây quanh co 9 lớp theo hình xoáy trôn ốc, trôn ốc là Xóm Chùa và mình ốc là đường thành từ Xóm Chùa qua Xóm Chợ, Xóm Hương về Gồ Cháy, miệng ốc hay “Loa Khẩu” ở gần cửa Nam, sát với sông Hoàng. Kết quả của các cuộc khảo sát từ xưa đến nay đều cho thấy sự hiện diện của 3 vòng thành, lũy đắp bằng đất cùng hào nước, sông hồ và nhiều gò đống, làm nên một tòa thành có quy mô lớn với tổng chu vi gần 16km, diện tích khoảng 46ha. Việc đắp dựng các vòng thành ở đây là sự tận dụng triệt để những lũy đất, gò đống tự nhiên và những dải gò đất cao dọc theo sông. Do vậy, tường thành có hình dáng không xác định lựa theo địa thế để tạo thành hai vòng bên ngoài bao bọc, che chở cho khu thành Nội. Riêng vòng thành Nội có hình chữ nhật vuông vắn là nơi vua và hoàng gia cùng triều đình ở, có quân đội bảo vệ.
Các tác phẩm xưa như Lĩnh Nam chích quái, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí… cũng đều nhắc đến chuyện Rùa Vàng (Kim Quy), núi Thất Diệu và sự kiện An Dương Vương đắp thành Cổ Loa.
Ngoài truyện Rùa Vàng (Kim Quy), trong dân gian vùng Kẻ Nhội, quanh khu vực Thất Diệu Sơn và vùng Cổ Loa còn lưu giữ rất nhiều huyền thoại khác nói về sự kiện An Dương Vương xây thành Ốc. Đó là chuyện về các nàng tiên gánh đất đắp thành. Họ làm việc suốt đêm đến trước khi gà gáy báo hiệu trời sáng thì biến mất. Nơi các nàng họp nhau gọi là Tiên Hội (xã Vân Canh), nơi các nàng chờ nhau nay là chợ Chờ (Yên Phong) cùng hàng loạt địa danh có liên quan như đò Lo, cầu Tía, cầu Hồng, cầu Đỏ, cầu Hàn…
Cổ Loa vốn tên Nôm là Chạ Chủ (Chạ - làng, Chủ - vùng đất cao). Truyền thuyết kể rằng: Trước khi tiến hành xây thành, An Dương Vương đã cho tập hợp những cư dân đang sinh sống ở Chạ Chủ đến gò Đống Dân, An Dương Vương nói với các bô lão trong làng nhà vua muốn chuyển dân sang vùng đất Tó, nơi dừng chân đầu tiên khi vua tìm đất dựng kinh đô. Nhưng mọi người đều không đồng ý. An Dương Vương bèn chấp thuận: Các bô lão, nhân dân muốn đến ở nơi nào, ngoài khu xây thành dựng kinh đô, vua đều chuẩn y và giúp dân an cư lạc nghiệp.
Mọi người dân đến họp đều nhất loạt chỉ tay xuống sông, An Dương Vương bèn nhặt một hòn cuội to, đứng trên gò cao ném mạnh xuống sông đúng nơi dân làng vừa chỉ. Tự nhiên giữa sông nổi lên một bãi cát phù sa, nơi đó chính là làng Châu Phong Hà Vỹ (xã Liên Hà, huyện Đông Anh ngày nay). Gò đất cao nơi vua An Dương Vương đứng ném viên cuội nay vẫn còn, gọi là gò “Đống Dân” ở phía đông bắc thành Ngoại Cổ Loa. Còn làng Châu Phong - Hà Vỹ ngày nay còn có tên gọi là làng Quậy (vùng đất này có cốt đất thấp trong huyện Đông Anh. Ngày xưa mỗi khi mưa to, vùng Quậy ngập nước thì vùng Chủ được mùa, trái lại khi vùng Quậy được mùa thì vùng Chủ bị khô hạn. Do đó dân gian có câu: Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc)[1].
Thành Cổ Loa đã hai lần được chọn làm kinh đô của triều Thục An Dương Vương (257 - 208 TCN), Ngô Quyền (939 - 944) và còn có nhiều tên gọi khác như Thành Ốc, Loa thành, thành Việt Thường, thành cũ Việt Vương, thành Chạ Chủ…
Theo truyền thuyết, thành Cổ Loa được đắp bằng đất, gồm 9 vòng xoáy trôn ốc. Sở dĩ thành được gọi là Cổ Loa là do kiến trúc độc đáo của thành. Căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng: thành Ngoại, thành Trung và thành Nội. Những vòng thành, một mặt đắp nối vào giữa và đắp thêm lên trên những cồn gò tự nhiên, mặt khác còn có ý thức vòng tránh những điểm tụ cư của cư dân thời tiền Cổ Loa đã xây dựng. Tường thành phía ngoài thẳng đứng, mặt trong dốc thoải. Các vòng thành cao trung bình từ 4 - 5m, có chỗ cao đến 8 - 12m. Chân vững chắc, rộng 20 - 30m, trên mặt rộng từ 6 - 12m. Trên ba vòng thành đều có ụ đất nhô ra ngoài gọi là “hỏa hồi”. Cả 3 vòng tường thành đều có các hào nước bảo vệ. Các vòng thành có chỗ xẻ làm cửa thành, trên các cửa thành đều có miếu thờ thần trấn giữ cửa, được xây dựng ở thời kỳ muộn, khi cư dân đến lập xóm.
Vòng thành Ngoại có chu vi khoảng 8.000m, qua địa phận của 4 xã: Cổ Loa, Uy Nỗ, Việt Hùng, Dục Tú. Đây là một vòng tường khép kín lần theo những gò đống tự nhiên, nên không có hình dáng rõ ràng. Thành Ngoại nhiều đoạn đã bị phá hủy, hào thành Ngoại phần lớn đã biến thành ruộng. Mặt cắt thành Ngoại có hình thang, rộng trung bình 18m, sâu trung bình 2,6m. Qua các lát cắt khảo cổ thấy ở dưới chân thành có lớp đá kè, trên là lớp đất sét có gia cố thêm các mảnh gốm để chân thành được chắc chắn.
Tường thành Trung là một vòng khép kín, không có hình dáng nhất định, dài khoảng 6.500m, vòng từ cửa nam về phía đông theo Đầm Cả qua Gò Vôi ở phía bắc rồi vòng lại phía nam theo bờ sông Hoàng, cũng được đắp nối các gò tự nhiên và men theo đầm hồ mà thành. Điểm độc đáo của thành Ngoại và thành Trung là được đắp nối liền ở phía Nam, tạo thành một quãng trống làm cửa ra vào. Mặt phía Nam thành Trung đã mất gần hết, phần bị san làm đường, phần bị nhà dân xây dựng lên trên.
Thành Trung mở 4 cửa: cửa Nam, cửa Bắc, cửa Tây Bắc và cửa Tây Nam. Ở các cửa trên mặt thành được xây miếu thờ thần trấn cửa thành. Riêng cửa Nam (chung với vòng thành Ngoại) cũng là cửa chính (cửa Tiền) nên xây 2 miếu thờ ở 2 bên.
Thành Nội khác hẳn với hai vòng tường thành trên, có hình chữ nhật, chu vi khoảng 1.650m, được xây dựng theo 4 hướng chính: Nam, Bắc, Tây, Đông nhưng chỉ mở cửa ở chính giữa tường thành phía nam. trông vào đình Cổ Loa. Quanh tường thành Nội có đắp 12 ụ “hỏa hồi”. Các ụ đất này được đắp rất cân xứng, mỗi tường ngang có 2 ụ, mỗi tường dọc có 4 ụ để phòng khi thành bị tấn công, những ụ “hỏa hồi” này sẽ phân tán quân địch, trên mặt thành quân sĩ dễ dàng sử dụng cung nỏ, mũi lao để tiêu diệt địch.
Mặt Đông của thành Nội giáp với thành Trung, không có luỹ tiền vệ. Chính ở chỗ gần cửa nam, sát với sông Hoàng có một cái giếng tròn thông nước với sông, dân gian thường gọi là Loa Khẩu (miệng ốc). Sau này, một tòa miếu nhỏ được xây ngay gần Loa Khẩu để thờ thần Kim Quy. Tòa miếu này hiện nay nằm gần chợ Sa, cách Loa Khẩu 20m, được xây đơn giản bằng gạch vữa, cửa kiểu cuốn vòm, có 1 bệ thờ bên trong. Con sông Hoàng Giang chính là con hào thiên nhiên cho thành Ngoại về phía Tây Nam và Nam. Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành. Từ gò Cột Cờ đến đầm Cả, con hào này nối với hào của thành Trung ở đầm Cả và xóm Mít, chảy qua cửa Cống
Song, nối với 5 con lạch có hình dáng như bàn tay đang xòe. Một nhánh của con lạch này nước chảy thông vào vòng hào của thành Nội. Thời xưa, hệ thống hào nối liền với nhau và thông ra sông Hoàng quanh năm đầy nước, thành mạng lưới giao thông thủy liên hoàn và thống nhất, thuyền bè có thể đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để trú đậu, nhất là khu vực đầm Cả và đầm
Muông rộng mênh mông bao giữ thành Trung và thành Ngoại ở phía Đông, biến nơi đây thành một “quân cảng”, từ đó có thể tỏa đi khắp nơi.
Xưa kia, thành Cổ Loa có 8 cửa (cổng), trấn giữ các hướng. Các cửa đều được xây bằng gạch, mỗi cửa đều có một miếu thờ, dấu tích nay vẫn còn.
Miếu cửa Bắc thành Trung ở Xóm Thượng (thờ tướng quân Cao Lỗ)
Cửa Đông Bắc: tại địa phận làng Thư Cưu cũ.
Cửa Tây Nam ở cổng Bà Đám, Xóm Gà.
Cửa Đông: cửa sông, cửa đầm.
Cửa Tây Bắc là hồ Thường Đỏ.
Cửa Nam có 2 cửa, một ở Xóm Chợ, một ở Xóm Vang.
Cửa Tây Nam: ở vòng thành thứ 3: Xóm Mít - Mạch Tràng.
Các miếu cổng thành nay chỉ còn 4 cái, các cửa khác đã mất do dân san bạt để làm nhà hoặc làm đường.
Thành Cổ Loa bao quát một khu vực rất rộng, gồm 8 làng (sau là 8 xã).
Mỗi làng có một vị trí trong hệ thống thành lũy:
Làng Cổ Loa: là trung tâm của thành (Chợ Sa là Đông Cung).
Làng Văn Thượng: là Tây Cung, nơi Cao Vũ thần hay Cao Vũ Hiền (em tướng quân Cao Lỗ) đóng giữ.
Làng Mạch Tràng: là trạm nghỉ từ Đông Cung sang Tây Cung
Làng Sằn Giã: nơi đúc tên đồng, tướng quân Cao Vũ Lân đóng tại đây.
Làng Ngoại Sát (Sép): nơi kiểm soát người ra vào thành, ai không được phép mà tự tiện vào thành thì quan trấn giữ tại đây có quyền “tiền trảm hậu tấu” (từ “Sép” là biến âm của “Phép”).
Làng Cầu Cả: làng hình thành sau khi có “cầu Tháng Năm” (Ngũ Nguyệt kiều), tương truyền là nơi vua An Dương Vương thường ngự thuyền ra tắm, hoặc đi thuyền qua đây để về quê vợ (cầu bắc sang Tây Cung Ngự, tức làng Văn Thượng bây giờ).
Làng Thư Cưu: là cuối của “Bát xã” nhưng lại có vị trí quan trọng nhất về mặt quân sự, nơi “Binh thư đầu trận”, tướng quân Cao Lỗ đóng tại đây.
Trong 3 vòng thành hiện còn có những di tích như: Ngự Xạ Đài (ở Xóm
Vang) là nơi vua Thục xem quân sĩ luyện tập cung nỏ; Vườn Thuyền ở khu vực phía đông thành Nội, tiếp nối với Thành Trung, thông nước với Đầm Cả qua Cống Song và thông với Ao Mắm, là căn cứ thủy quân có chức năng như các cầu cảng và các dấu tích có liên quan đến kinh đô cổ thời Âu Lạc như Loa Khẩu. Ở sát chân thành Ngoại có miếu thờ thần Kim Quy gắn với truyền thuyết thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành. Loa Khẩu còn là nơi thần Kim Quy hiện lên làm Giang Sứ do Huyền Thiên Trấn Vũ phái đến giúp vua. Các địa danh “gò Cột Cờ” nằm trên thành Ngoại, nơi có cửa thông nước với sông Hoàng Giang, theo truyền thuyết là nơi cắm cờ dưới thời Âu Lạc và thời Ngô Quyền. Ngoài ra còn có các địa danh khác như gò Đống Bắn, gò Đống Giáo, gò Pháo Đài, gò Con Voi, gò Vua, gò Đống Chuông... Kiến trúc của toàn bộ khu vực ít nhiều đã bị thay đổi sau khi vua Ngô Quyền đóng đô tại đây.
Thành Cổ Loa là một công trình xây dựng với quy mô lớn của nhân dân nước Âu Lạc. Tương truyền thành được đắp trong 13 năm. Tổng số đất đào đắp để dựng thành ước tính đến hàng vài chục vạn mét khối, trong khi số dân của cả nước khi đó chưa vượt quá 1 triệu người, đã cho thấy tài năng, sức sáng tạo của người Âu Lạc. Khi đắp thành, điều kiện địa hình của vùng đất này (các cồn, gò, đầm nước, sông… được tận dụng triệt để, dùng sông làm hào, lấy gò cao, dải đất cao làm lũy…), kỹ thuật kè đá tảng để chân thành được vững chãi trên một vùng đầm lầy được áp dụng. Thành Cổ Loa là quân thành đầu tiên của dân tộc ta, thể hiện nghệ thuật quân sự tài giỏi của quân và dân Âu Lạc. Đây là một công trình phòng ngự kiên cố và lợi hại gồm nhiều công trình phòng thủ (lũy, hào, ụ công sự…) liên hoàn, đồng thời cũng là một căn cứ xuất phát tiến công, tạo sự kết hợp giữa bộ binh với thủy binh. Thuyền chiến có thể vận động khắp 3 vòng hào để phối hợp tác chiến với bộ binh, có thể từ căn cứ Cổ Loa tỏa ra sông Hoàng Giang, ngược sông Hồng, xuôi sông Cầu để ra biển.
Từ năm 1970 đến nay, thành Cổ Loa đã được khai quật nghiên cứu về quy mô, cấu trúc, kỹ thuật xây dựng và xác định niên đại. Kết quả các lần thăm dò cắt thành Ngoại (1970, 2012), cắt thành Nội (2005), cắt lũy hào thành Trung (2007, 2008) đã cho thấy cả ba vòng thành được xây dựng trong một thời gian ngắn, từ khoảng thế kỷ III - I trước Công nguyên.
Như vậy, về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức tường thành kiên cố, với hào sâu, rộng cùng các ụ lũy, thành Cổ Loa là một công trình quân sự to lớn, quy mô đồ sộ, kiên cố, được phòng vệ rất chắc chắn, thể hiện tri thức quân sự độc đáo của nhân dân ta, một căn cứ bộ binh hiểm yếu, một căn cứ thuỷ quân lợi hại và cũng là đê đập trị thuỷ vững chắc. Nhờ ba vòng hào thông nhau, thủy binh và bộ binh có thể dễ dàng phối hợp trong tác chiến chống giặc ngoại xâm.
Về mặt văn hóa, Cổ Loa là tòa thành đất cổ xưa nhất còn để lại dấu tích của nước ta, là di sản văn hóa vô cùng quý báu, một bằng chứng về sức sáng tạo, trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt cổ. Thành Cổ Loa là một tổ hợp kinh thành - quân thành - thị thành đầu tiên của dân tộc ta, là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa sớm nhất của đất nước, được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ".



