Tri thức chữa bệnh bằng phương pháp Y học cổ truyền của gia đình ông Nguyễn Tiến Phúc
Giới thiệu
Tri thức chữa bệnh bằng phương pháp Y học cổ truyền của gia đình ông Nguyễn Tiến Phúc, phường Phú Diễn, thành phố Hà Nội.
Chữa bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền có từ xa xưa, riêng đối với gia đình họ Nguyễn bắt đầu hành nghề từ năm 1926, do cụ cố Nguyễn Văn Khản, thừa kế từ một nhà sư ở Hà Tĩnh.
Cuối thế kỷ XIX, vào năm Đinh Hợi (1887), cụ Nguyễn Văn Khản sinh ra trong
một gia đình nhà nho nghèo nhưng có truyền thống hiếu học. Sinh thời, cụ từng ấp ủ những hoài bão của nam nhi thời nho học. Song đương thời, xã hội loạn lạc,
gia đình ít điều kiện, cụ Khản chỉ được đi học chữ và tự đọc sách Thánh hiền, chứ không được tham gia khoa cử. Năm 1906, cụ Khản lập gia thất. Năm 1907, cụ bà sinh được người con trai là Nguyễn Văn Diệt. Với cụ Khản, vợ con là tâm ý sâu xa nhất của một người ít nhiều hiểu được Đức Thánh hiền. Nhưng thật không may mắn, sau 2 năm sinh hạ ông Điệt thì cụ bà mắc phải 1 số căn bệnh mà thời đó được xem là bệnh nan y: đau dạ dày tá tràng, viêm thấp khớp cấp. Cũng từ đấy, cụ bà đau ốm liên miên, cụ Khản dốc lòng tìm thầy chạy thuốc nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Đến năm 1916, cụ bà qua đời vì hai căn bệnh quái ác trên.Chứng kiến sự đau đớn vì bệnh tật, bất lực trước cái chết dần dần với người vợ hiền, trong lòng cụ Khản đã nung nấu ý định học nghề Đông y để mong muốn cứu chữa cho những người trong gia đình và bà con chòm xóm. Vì vậy, khi cụ bà qua đời, cụ Nguyễn Khản đã quyết tâm và học được nghề thuốc từ một sư cụ ở Hà Tĩnh.
Năm 1921, cụ Nguyễn Khản lập kế thất và sinh hạ được một người con gái là Nguyễn Thị Hợi (1923) và một người con trai là Nguyễn Đình Chiêu (1926).
Cũng từ năm 1926, với sự ủng hộ của cụ bà, cụ ông Nguyễn Khản bắt đầu bốc thuốc chữa bệnh giúp mọi người. Dần dần, cụ Nguyễn Khản có được tiếng tăm xa gần với những bài thuốc hay như:
- Chữa bệnh đau Dạ dày
- Chữa bệnh đau Đại tràng
- Chữa bệnh đau Xương khớp
- Chữa bệnh Mất ngủ
Cùng những bài thuốc tốt, cụ Nguyễn Khản đã là một người có tấm lòng nhân đức quảng đại. Chính vì vậy mà trong lòng người dân xa gần đương thời, cụ Nguyễn Khản là một lương y đáng kính.
Người con của cụ Nguyễn Khản - Lương y Nguyễn Đình Chiêu từ nhỏ đã được tiếp xúc phụ giúp bố mẹ bốc thuốc hàng ngày. Cụ Khản ngày ấy nhận ra cậu con trai mình tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã tỏ ra là người có năng khiếu đặc biệt trong nghề bốc thuốc. Sau này, cụ Khản đã truyền lại toàn bộ những bài thuốc quý cho ông Chiêu. Nhưng lớn lên ông Chiêu vào bộ đội, và phải đến tháng 8/1971 khi nghỉ hưu ông mới thực hiện việc kế tục nghề thuốc của gia đình. Thời ấy, dược liệu khó khăn, đi lại không tiện lợi do đất nước vẫn còn chiến tranh. Trong hoàn cảnh khó khăn ông vẫn thân hành tìm kiếm cây thuốc. Mười năm ròng chuẩn bị khá đầy đủ về điều kiện chữa bệnh, năm 1981, ông Chiêu mới thực sự hành nghề tại thôn Phú Diễn (xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội).
Năm 1991, gia đình họ Nguyễn được Sở Y tế Hà Nội cấp giấy phép hành nghề. Các bài thuốc gia truyền gồm: chưa bệnh dạ dày, chữa bệnh đại tràng, chữa bệnh thấp khớp và chữa bệnh mất ngủ.
Người con của Lương y Nguyễn Đình Chiêu - Lương y Nguyễn Tiến Phúc cho biết, anh được chính thức trao quyền thừa kế bài thuốc của gia tộc từ năm 1994 từ người cha của mình. Những bài thuốc này trước đó ông nội đã truyền lại cho cha anh.
Năm 1995, được Bộ Y tế cấp số đăng ký cho sản xuất bán lưu hành trên toàn quốc. Hiện nay, có các bài thuốc đã được lưu hành như: Gastro-TĐ (chữa bệnh dạ dày); Đatra-TĐ (chữa bệnh đại tràng); Photha-TĐ (chữa bệnh thấp khớp); Antha- TĐ (chữa bệnh mất ngủ).
*Khám bệnh: theo phương pháp y học cổ truyền gồm có bốn bước (gọi là tứ chẩn)
- Vọng: là thầy thuốc dùng mắt quan sát bệnh nhân, quan sát vóc dáng, hình thái, động thái, sắc thái, màu sắc của da, lông, lưỡi, móng, …
- Văn: là thầy thuốc dùng tai và mũi để nghe và ngửi những biểu hiện từ bệnh nhân; nghe là nghe tiếng nói, nghe tiếng ho, tiếng nấc, tiếng thở của người bệnh; ngửi mùi từ hơi thở, chỗ đau, …
- Vấn: là thầy thuốc dùng miệng và tai để hỏi và nghe bệnh nhân kể bệnh; hỏi là hỏi để biết nóng, lạnh, hỏi về mồ hôi, hỏi về vị trí đau, hỏi về tiểu tiện, đại tiện, hỏi về kinh nguyệt, …
- Thiết: là thầy thuốc dùng tay để sờ nắn cơ thể bệnh nhân; sờ nắn vùng bụng, lòng bàn chân, tay, vùng bị bệnh và bắt mạch để chuẩn bệnh, …
Vì bệnh tật diễn biến khác thường, việc chẩn bệnh cần phải tỉ mỉ thận trọng, áp dụng triệt để cả bốn phương pháp trên (vọng, văn, vấn, thiết) thì ít khi nhầm lẫn, bỏ sót, không như một số bệnh nhân cho rằng chỉ cần bắt mạch là biết hết thì đó là cách hiểu có phần phiến diện.
*Thuốc chữa bệnh: để có một vị thuốc tốt, một bài thuốc hay được người tiêu dùng chấp nhận, phải chú ý ngay từ khi nuôi trồng dược liệu, thu hái, sơ chế đến bào chế (điều chế). Đông y từ trước đến này, các công đoạn thường được truyền khẩu, theo kinh nghiệm, ít có đơn vị, cơ quan chính thức làm hẳn công việc này. Ngoài ra, việc bào chế thuốc đông y còn yêu cầu chế biến theo diễn biến của bệnh, nên có nhiều vị thuốc phải được làm sau khi bệnh nhân đã được thầy thuốc khám. Một vị thuốc hay một bài thuốc thường phải trải qua các giai đoạn:
- Nuôi trồng cây thuốc
- Thu hái cây thuốc
- Sơ chế các vị thuốc sau thu hái
Có một hay nhiều các công đoạn như sau: thái (bào), tán, rây, sao, tẩm, thủy phi, thủy bào, chích, đốt, lùi, nung, …
- Bào chế (điều chế) thành phẩm: Là khâu kết hợp các vị thuốc thành thuốc thành phẩm, để cho bệnh nhân dùng
b.1. Gastro-TĐ (chữa bệnh dạ dày):
·Sơ chế
ü Lá khôi loại bỏ tạp chất (nếu có), rửa sạch, phơi khô ròn, sao tẩm. Xay, dần lọc bỏ bông xơ, rây qua rây số 250.
ü Bồ công anh loại bỏ tạp chất (nếu có) rửa sạch, phơi khô ròn, sao tẩm. Xay, dần lọc bỏ bông xơ, rây qua rây số 250.
ü Khổ sâm loại bỏ tạp chất (nếu có) rửa sạch, phơi khô ròn, sao tẩm. Xay, dần lọc bỏ bông xơ, rây qua rây số 250.
ü Ngải cứu loại bỏ tạp chất (nếu có) rửa sạch, phơi khô ròn, sao tẩm. Xay, dần lọc bỏ bông xơ, rây qua rây số 250.
ü Chỉ thực: loại bỏ tạp chất (nếu có), phân loại to, nhỏ khác nhau; sao ròn (hơi đen), đem sang sẩy sạch. Xay, rây qua rây số 250.
ü Củ gấu: loại bỏ tạp chất (nếu có); phân loại to, nhỏ khách nhau. Sao cháy long; cho vào thuyền tán làm truội vỏ, đem sang sẩy sạch. Xây, rây qua rây số 250.
ü Ô tặc cốt: Sấy khô, cạy bỏ vỏ cứng ở ngoài; rửa, ngâm nước cám xay hoặc nước vo gạo 2 ngày 1 đêm (hàng ngày thay nước). Rửa lại, luộc 1 giờ (để diệt trùng); sấy khô, sao qua, xay, rây qua rây số 250.
ü Mật ong: đun sôi nhanh cho bồng bọt lên, hớt hết bọt. Thêm nước sôi vừa đủ, khuấy đều cho tới khi sôi đều là được.
·Bào chế (Điều chế) thành phẩm
ü Cân trộn bột kép: Tất cả các dược liệu, từng loại riêng biệt đã sơ chế thành bột mịn (đã qua rây số 250) được cân theo công thức, đem trộn bằng máy trộn bột khô thời gian một mẻ là 30 phút.
ü Trộn bột ướt thời gian 20 phút, tiếp tục cho vào máy hoàn viên (máy vê viên) tiến hành hoàn cứng. Cỡ hạt từ 0,1g – 0,6g. (Một loại bằng nhau).
ü Thuốc thành phẩm cho vào sấy ở nhiệt độ từ 60°C – 70°C trong thời gian 4 giờ để diệt khuẩn và đạt độ ẩm. Thường sau khi sấy độ ẩm đạt <12%.
ü Dư phẩm: Tất cả các thuốc hoàn nhỏ hơn hoặc lớn hơn qui định được hoàn lại để đạt.
ü Kiểm nghiệm: Kiểm nghiệm sơ bộ thuốc đạt tiêu chuẩn quy định mới đóng gói túi nhôm. Sau khi đóng gói túi nhôm, kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn cơ sở tại Trung tâm kiểm nghiệm thành phố Hà Nội, mới đóng hộp thành phẩm.
ü Đóng gói: Thuốc đóng 6 gam trong 1 gói túi nhôm đạt tiêu chuẩn cơ sở rồi đóng 12 túi nhôm vào hộp giấy cúng. Đóng gói 50 hoặc 100 hộp giấy cứng thành phẩm vào thùng cát tông.
ü Nhập kho: Làm thủ tục nhập kho.
b.2. Đatra-TĐ (Chữa bệnh Đại tràng)
·Sơ chế
ü Bạch Truật: Lựa chọn từng loại to, nhỏ để riêng. Chải, rửa sạch, ủ kín cho mềm, thái mỏng, phơi khô rồi đem sao cháy. Xay, rây qua rây số 250.
ü Hoàng bá: Làm sạch vỏ thô ngoài, rửa sạch, ủ mềm, thái miếng, phơi khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Trạch tả: Bỏ hết rễ, lựa chọn từng loại to nhỏ để riêng, chải, rửa sạch, ngâm nước 1- 2 giờ, ủ 1 đêm cho mềm, thái mỏng, phơi khô, tẩm nước muối 2 giờ (1kg trạch tả + 30g muối trong 200 ml nước) phơi khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Liên nhục: Bỏ vỏ đen và tím, ruột xanh ở trong, phơi khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Ý dĩ: Giã sạch vỏ, vo sạch, phơi khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Kê nội kim: Bỏ hết chất bẩn, rửa sạch, phơi khô, sao với cát cho phồng lên, làm sạch cát. Xay, rây qua rây số 250.
ü Mộc hương: Rửa sạch, thái mỏng, phơi trong râm cho khô. Xay, rây qua rây số 250.
ü Mật ong: Đun sôi nhanh cho bồng bọt lền, hớt hết bọt. Thêm nước sôi vừa đủ, khuấy đều cho tới khi sôi đều là được.
·Bào chế (Điều chế) thành phẩm
ü Cân trộn bột kép: Tất cả các dược liệu, từng loại riêng biệt đã sơ chế thành bột mịn (đã qua rây số 250) được cân theo công thức, đem trộn bằng máy trộn bột khô thời gian một mẻ là 30 phút.
ü Trộn bột ướt thời gian 20 phút, tiếp tục cho vào máy hoàn viên (máy vẽ viên) tiến hành hoàn cứng. Cỡ hạt từ 0,1g – 0,6g. (Một loại bằng nhau).
ü Thuốc thành phẩm cho vào sấy ở nhiệt độ từ 60°C – 70°C trong thời gian 4 giờ để diệt khuẩn và đạt độ ẩm. Thường sau khi sấy độ ẩm đạt < 12%.
ü Dư phẩm: Tất cả các thuốc hoàn nhỏ hơn hoặc lớn hơn qui định được hoàn lại để đạt.
ü Kiểm nghiệm: Kiểm nghiệm sơ bộ thuốc đạt tiêu chuẩn quy định mới đóng gói túi nhôm. Sau khi đóng gói túi nhôm, kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn cơ sở tại Trung tâm kiểm nghiệm thành phố Hà Nội, mới đóng hộp thành phẩm.
ü Đóng gói: Thuốc đóng 6 gam trong 1 gói túi nhôm đạt tiêu chuẩn cơ sở rồi đóng 12 túi nhôm vào hộp giấy cúng. Đóng gói 50 hoặc 100 hộp giấy cứng thành phẩm vào thùng cát tông.
ü Nhập kho: Làm thủ tục nhập kho.
b.3. Photha- TĐ (Chữa bệnh Thấp khớp)
·Sơ chế
ü Thiên niên kiện: Rửa sạch, ủ cho mềm, thái lát phơi trong râm hoặc sấy nhỏ lửa cho khô. Xay, rây qua rây số 250.
ü Kê huyết đằng: Lựa chọn to, nhỏ riêng từng loại. Dây nhỏ ngâm khoảng 12 giờ, dây to ngâm khoảng 48 giờ, tới khi mềm thái lát mỏng, phơi khô. Sao vàng nhỏ lửa. Xay, rây qua rây số 250
ü Đỗ trọng: Cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, cắt từng lát nhỏ 3- 4 ly, phơi khô. Tẩm nước muối 2 giờ (1kg đỗ trọng + 30g muối trong 200 ml nước). Phơi khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Cốt toái bổ: Rửa sạch, cạo sạch lông, thái mỏng, phơi khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Tỳ giải: Loại bỏ tạp chất, ngâm nớc vo gạo hoặc nước cám 12 giờ, rửa sạch bằng bàn chải, ủ mềm, thái mỏng, phơi khô. Xay, rây qua rây số 250.
ü Tần giao: Bỏ cuống, nhặt bỏ tạp chất, rửa sạch, cắt khúc, phơi khô. Xay, rây qua rây số 250.
ü Ngưu tất: Lựa bỏ tạp chất, rửa sạch, để ráo nước, thái khúc, phơi hoặc sấy khô, sao vàng. Xay, rây qua rây số 250.
ü Xuyên khung: Rửa sạch, ủ 02 ngày cho tới khi mềm thái mỏng, phơi hoặc sấy nhỏ lửa cho khô. Xay, rây qua rây số 250.
ü Quế chi: Lựa bỏ tạp chất, thái mỏng, phơi khô. Xay, rây qua rây số 250. - Mật ong: Đun sôi nhanh cho bồng bọt lên, hốt hết bọt. Thêm nước sôi vừa đủ, khuấy đều cho tới khi sôi đều là được.
·Bào chế (Điều chế) thành phẩm
ü Cân trộn bột kép: Tất cả các dược liệu, từng loại riêng biệt đã sơ chế thành bột mịn (đã qua rây số 250) được cân theo công thức, đem trộn bằng máy trộn bột khô thời gian một mẻ là 30 phút.
ü Trộn bột ướt thời gian 20 phút, tiếp tục cho vào máy hoàn viên (máy về viên) tiến hành hoàn cứng. Cỡ hạt từ 0,1g – 0,6g. (Một loại bằng nhau).
ü Thuốc thành phẩm cho vào sấy ở nhiệt độ từ 60°C – 70°C trong thời gian 4 giờ để diệt khuẩn và đạt độ ẩm. Thường sau khi sấy độ ẩm đạt <12%.
ü Dư phẩm: Tất cả các thuốc hoàn nhỏ hơn hoặc lớn hơn qui định được hoàn lại để đạt.
ü Kiểm nghiệm: Kiểm nghiệm sơ bộ thuốc đạt tiêu chuẩn quy định mới đóng gói túi nhôm. Sau khi đóng gói túi nhôm, kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn cơ sở tại Trung tâm kiểm nghiệm thành phố Hà Nội, mới đóng hộp thành phẩm.
ü Đóng gói: Thuốc đóng 6 gam trong 1 gói túi nhôm đạt tiêu chuẩn cơ sở rồi đóng 12 túi nhôm vào hộp giấy cứng. Đóng gói 50 hoặc 100 hộp giấy cúng thành phẩm vào thùng cát tông.
ü Nhập kho. Làm thủ tục nhập kho.
b.4 Antha- TĐ (chữa bệnh mất ngủ)
·Sơ chế
Lạc tiên, Nhân trần, Nụ vối, Tâm sen, Cỏ ngọt, (từng loại riêng biệt) loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô giòn, sao thơm. Xay, dần, lọc bỏ sơ, rây qua rây số 1400 (bột thô).
·Bào chế (Điều chế) thành phẩm
ü Cân trộn bột kép: Tất cả các dược liệu đã sơ chế thành bột thô. (đã qua rây số 1400) được cân theo công thức, đem trộn bằng máy trộn bột khô thời gian một mẻ là 30 phút.
ü Sấy: bột thuốc thành phẩm cho vào sấy ở nhiệt độ từ 60°C – 70°C trong thời gian 4 giờ để diệt khuẩn và đạt độ ẩm. Thường sau khi sấy độ ẩm đạt từ 3- 4%. Rồi đem ướp Hương sen.
ü Kiểm nghiệm: Kiểm nghiệm sơ bộ thuốc đạt tiêu chuẩn quy định mới đóng gói.
ü Bảo quản: Đóng túi PE, để nơi khô ráo, chống ẩm, mốc.
Tri thức chữa bệnh bằng phương pháp Y học cổ truyền (YHCT) của gia đình lương y Nguyễn Tiến Phúc tại phường Phú Diễn, Hà Nội, có giá trị cao, chủ yếu tập trung vào việc kế thừa và phát triển các bài thuốc gia truyền đặc trị một số bệnh mãn tính.
Các giá trị cốt lõi của tri thức này bao gồm:
a. Giá trị y học cổ truyền chuyên sâu (bài thuốc đặc trị):
Giá trị nổi bật nhất là việc gia đình ông Phúc đã kế thừa và phát huy các bài thuốc quý có tính chuyên biệt cao và hiệu quả ổn định trong điều trị, đã được kiểm nghiệm qua nhiều đời:
- Chữa các bệnh về Tiêu hóa: Tri thức trọng tâm là các bài thuốc đặc trị đau dạ dày, hành tá tràng, và đại tràng. Đây là những bệnh phổ biến trong xã hội hiện đại, và việc sử dụng YHCT giúp điều trị căn nguyên, giảm thiểu tác dụng phụ so với Tây y kéo dài.
- Chữa các bệnh về Cơ xương khớp: Các bài thuốc gia truyền về thấp khớp cấp và các chứng đau nhức xương khớp khác thể hiện sự thâm niên và kinh nghiệm trong việc điều hòa kinh lạc, trừ phong thấp.
- Điều trị chứng Mất ngủ: Bài thuốc về mất ngủ cho thấy tri thức của gia đình không chỉ dừng lại ở bệnh thực thể mà còn bao gồm cả các vấn đề về tinh thần, giúp an thần, dưỡng tâm, đưa cơ thể về trạng thái cân bằng.



