Trường Lương Văn Can, thôn Nhị Khê, xã Thường Tín, thành phố Hà Nội
Giới thiệu
Cuộc đời và sự nghiệp của cụ Lương Văn Can đã được nhiều sử sách ghi chép lại khá cụ thể và rõ ràng. Theo những tư liệu chúng tôi khảo cứu được, xin tóm tắt như sau: Lương Văn Can là một nhà chí sĩ cận đại. Ông sinh năm Giáp Dần (1854), mất năm Đinh Mão (1927), tự là Ôn Như, hiệu Sơn Lão, quê ở làng Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây).
Thân phụ ông là Lương Văn Tích, gia cảnh bình thường nên phải cho người anh của ông tên là Lý đi lính. Sau này cố gắng cầm cố ruộng đất để cho ông và em trai là Ngọc Lâm đi học chữ nho. Ông là con thứ ba trong nhà (nếu tính cả con gái thì là thứ năm). Ông học trường cụ Tú ở trong làng (trong số đó có cụ Tú Liêm, sau này hoạt động chống Pháp bị bắ t đi đày rồi chết. Lương Văn Can quen với quan Bố chính Hà Đông là Nguyễn Hữu Dự, nên xin được đem di hài của Thầy về táng ở bản quán). Sau Ông theo học trường cụ cử Vũ Thạch Nguyễn Huy Đức, và đỗ sớm nhất trong số học trò nên được cử làm trưởng môn của trường này. Trường mở ở làng Vũ Thạch (nay là nhà số 7 phố
Tràng Thi, Hà Nội). Đây là một ngôi trường rất nối tiếng vì danh tiếng của người thầy. Khí tiết của người thầy không thể không ảnh hưởng đến tư tưởng Lương Văn Can. Cho nên sau này chính ông đã soạn tấm bia ca ngợi thầy để trước từ đường và ông đứng ra xây dựng vào năm Thành Thái thứ 15 (1903).
Năm 17 tuổi, Ông dự kỳ thi Hương và đậu Tam trường. Năm ông 20 tuổi là năm khoa thi Quý Dậu (1873), gặp lúc giặc Pháp đánh phá Hà Thành, phải hoãn thi. Đến năm sau, ông thi đỗ cử nhân nên mọi người thường gọi là cụ cử Can. Tháng 3 năm Kỷ Mão (1789) có ân khoa thi Hội, ông định vào Huế dự thi thì cha ông ốm nặng rồi mất, nên ông phải bỏ thi. Sau đó, Ông ra ở phố Hàng Đào, Hà Nội dạy Nho học theo lối khoa cử. Sau Ông được bạn bè mang đến cho những sách tân thư của Rútxô, Môngtexkiơ, Vônte… thông qua bản dịch chữ Hán của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu - đây là những vị lãnh tụ phái Duy Tân ở Trung Quốc. Ông rất thích những tư tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái của trường phái triết học Ánh sáng trong đại cách mạng tư sản Pháp (1789) và trong ông đã có sự chuyển biến về tư tưởng. Phương pháp sư phạm của ông cũng có đổi mới. Từ đó, ông nảy ra sáng kiến lập trường Đông Kinh nghĩa thục để giáo dục nhân dân, làm cuộc cách mạng về văn hoá. Đến năm 1908, Ông liên kết với các đồng chí, lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục ở phố Hàng Đào, Hà Nội và khởi xướng phong trào Duy Tân - trong đó Lương Văn Can là sáng lập viên, Nguyễn Quyền là hiệu trưởng và một số người là chủ trì như: Đào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong, Đặng Kinh Luân...
Điểm đặc biệt của chương trình học là có những môn lịch sử, địa dư, cách trí, vệ sinh...Mỗi tuần, học viên có tư tưởng gì mới đều có thể mang đến để toạ đàm, tranh luận. Nhà trường còn tổ chức các cuộc diễn thuyết để cổ vũ lòng yêu nước, kết đoàn, chống lối học thi cử ngày trước, trọng thực nghiệp và sống theo lối mới như mặc áo ngắn, cắt búi tóc, để răng trắng, dùng nội hoá, bài trừ hủ tục....Các sĩ phu yêu nước và nhân dân tiến bộ nhiệt liệt tham gia, khiến thực dân Pháp hoảng hốt, khủng bố trắng, ra lệnh đóng cửa trường, bắt giam một số người, Ông cũng bị gọi nhiều lần nhưng chúng không đủ bằng chứng để bắt giam ông. Đến năm 1913, nhân vụ ném tạc đạn ở Hà Nội Hotel (khách sạn Hà Nội), chúng bắt cả trăm người trong đó có Ông, rồi kết án 10 năm biệt xứ, lưu đày ở Nam Vang (Phnom penh - Campuchia). Giam giữ hơn 7 năm chúng giảm án cho ông và cho trở về Hà Nội ngày 25/11/1921.
Trở về Hà Nội ông vẫn dạy học, mở trường Ôn Như và chuyên tâm soạn sách. Các con trai ông: Lương Trúc Đàm, Lương Nghị Khanh, Lương Ngọc Quyến đều hi sinh vì nước. Con rể ông là chí sĩ Nguyễn Phương Sơn bị lưu đày ở Đốc Vàng Thượng, tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang).
Ngày 13/6/1927 ông mất tại Hà Nội vì tuổi già, thọ 73 tuổi. Khi mất ông lưu lại lời trối căn dặn con cháu: "Bảo quốc tuý, tuyết quốc sỉ" (giữ lấy tinh hoa của đất nước, rửa nhục nước) và các tác phẩm: Quốc sự phạm lịch sử, Hán tự tuyệt kính, ấm học tùng đàm, Gia huấn, Hán tự tuyệt âm, Hạnh đàm loại ngữ (trích dịch sách Luận Ngữ) và Châu thư loại ngữ (trích dịch sách Mạnh Tử). Ông mất, các sĩ phu trong nước rất thương tiếc. Cảm khái nhất là giới công nhân lao động. Tiêu biểu nhất là bài thơ tướng niệm ông do Chu Văn Tấn đăng ở Tạp chí Đông Pháp thời báo ngày 24/6/1927, với lời lẽ thống thiết:
"Hỡi đồng bào!
Lương chí sĩ nước nhà tạ thế
Cái buồn chung há dễ riêng ai
Tôi là lao động thiên tài
Lòng thành tỏ dấu bi ai anh hùng
Hỡi đồng bào Lạc Hồng Nam Việt
Cái buồn chung phải quyết cùng nhau
Thương nhà chí sĩ công lao
Vì dân vì nước tiêu hao một đời?
Sinh thời Ông đã cho xây dựng ngôi trường tiểu học ở quê nhà với mục đích mở mang dân chí cho con em địa phương và trong vùng học tập. Ngôi trường này, ông đã đứng lên vận động nhân dân cùng nhau xây dựng, đến cuối năm 1924, ngôi trường đã hoàn thành với 2 phòng học khang trang.
Trường tiểu học Lương Văn Can do nhà chí sĩ Lương Văn Can đã dùng tiền của mình và vận động nhân dân đóng góp để xây dựng cho con em trong xã và trong vùng học tập để mở mang dân trí rồi cứu nước, cứu dân. Trước đó, ông bị can án chính trị nên phải lấy tên người khác đứng khởi công. Mấy hiệp thợ mộc, thợ nề biết Lương Văn Can chính là người xuất tiền ra xây dựng trường, lại kính trọng ông là một nhà chí sĩ yêu nước chống Tây đã bị đi đày quản thúc, nên đã bí mật khắc tên ông vào xà ngang, nhưng khắc dấu vào phía trong để kỉ niệm. Sau đó bị Tri huyện bắt xóa đi. Trong buổi lễ khánh thành và khai giảng năm học đầu tiên (1924-1925), Cụ đã căn dặn học sinh :"Tôi mong rằng từ đây, ngôi trường của làng ta, các thế hệ niên thiếu hôm nay và mai này của Nhị Khê hãy trưởng thành lên, là người có văn hóa, có đức nghiệp để mà gánh vác trọng trách trước tiên tổ ". Để ghi nhớ công lao của cụ Cử Lương Văn Can, nhân dân đã lấy tên cụ để đặt tên trường nhưng bọn thực dân Pháp không chấp nhận và bắt đề "Nhị Khê Việt - Pháp trường" mới bổ nhiệm giáo viên về dạy và cấp lương. Sau cách mạng tháng 8/1945, trường chính thức mang tên trường tiểu học Lương Văn Can.
Trường tiểu học Lương Văn Can nằm ở cuối làng, nhìn theo hướng Tây Nam. Trường được xây dựng năm 1924, với 2 phòng học khang trang. Trong khuôn viên trường học hiện còn có hệ thống tường bao quanh được xây bổ trụ.
Từ cổng trường, chúng ta bước vào sân trường với hai cây bàng được trồng ở trong sân, phía ngoài là một cây bàng cổ thụ với tuổi thọ ước chừng khoảng 50 năm tuổi. Qua bậc tam cấp được lát gạch giếng đáy là tới hạng mục chính. Trường tiểu học là một dãy nhà ngang gồm 2 phòng học rộng rãi. tường hồi bít đốc với 2 mái chảy lợp ngói giếng đáy (đây là ngói mới được tu sửa năm 2005). Hai đầu bờ nóc đắp đấu đinh, bờ giải có đắp 2 trụ, trụ giữa đắp hình hồi văn triện, trụ dưới được đắp kiểu ô lồng đèn, phía trên là trụ đấu, trên cùng là một hình cầu. Phần hiên của trường tiểu học khá rộng, 2 đầu hiên trổ 2 cửa đi lại cuốn vòm kiểu gotich. Mặt trước phần hiên mở hai cửa đi lại, về hai phía có hai cửa lửng, phía dưới phần tường được chia làm 3 ô, phía trong mỗi ô đắp hình hoa cúc.
Vào bên trong lớp học, mỗi lớp được chia làm 3 gian với bộ vì làm theo kiểu vì kèo quá giang, lớp học có kê các dãy bàn ghế học sinh, phần giữa để lối đi lại, phía trên là bục giảng với bảng phấn được treo chính diện.
Mặc dù đã tồn tại trên 80 năm kể từ ngày khởi dựng đến nay, trải qua 2 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, nhưng ngôi trường vẫn được nhân dân giữ gìn, bảo vệ với giá trị nguyên mẫu.



