Văn chỉ Kiều Phú
Giới thiệu
1.Cấp xếp hạng: Văn chỉ Kiều Phú xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
2. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích
Làng Vĩnh Phúc có hai di tích thờ danh nhân Kiều Phú đó là nhà thờ Kiều Phú đã được xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số 65VH/QĐ ngày 16/01/1995 và văn chỉ Kiều Phú. Đây là hai di tích có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi cùng thờ một danh nhân đó là Hoàng giáp Kiều Phú. Ông đỗ Hoàng giáp niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475) đời vua Lê Thánh Tông.
Căn cứ vào gia phả và sắc phong hiện lưu tại nhà thờ thì Kiều Phú, tự là Hiếu Lễ, hiệu là Ninh Sơn. Ông sinh năm 1446 tại trang Liệp Hạ (tên cổ của làng Vĩnh Phúc trước đây) trong một gia đình nhà nghèo phải đi làm thuê cho người để kiếm sống. Một hôm, cậu bé thấy một đoàn áo the khăn lượn gánh lễ vật đi qua, cậu hỏi họ đi đâu, nhưng thấy Kiều Phú rách rưới, họ có ý khinh bỉ. Hỏi ra, Kiều Phú mới biết họ là học trò của cụ Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực bên làng Tiếu Đông Mộng, tổng Nghĩa Bang (tức thôn Văn Khê, xã Nghĩa Hương ngày nay). Kiều Phú vừa xấu hổ vừa ấm tức về nhà bàn với mẹ cho đi học. Kiều Phú sang đến trường không dám vào lớp, chỉ đứng bên ngoài nghe lỏm, vạch xuống đất mà học. Một thời gian sau, bà mẹ sang nói với thầy. Thầy cũng giật mình vì chưa thấy học trò này vào lớp nhưng khi hỏi đến đâu thì điều biết đến đó mà viết chữ lại rất đẹp. Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực biết Kiều Phú có tài liền cho theo học, không phải đóng đồng môn mà còn chu cấp thêm cho vì biết cảnh nhà nghèo. Được vào học, Kiều Phú ngày ngày lội qua cánh đồng chiêm trũng đến lớp. Mùa nước, ông phải vào điếm làng gỡ một mảnh gỗ làm phao bơi. Đến trường phơi khô lại làm bảng để viết chữ.
Nhiều tài liệu còn viết rằng cụ nhà nghèo đói, bần hàn, cơm áo không đủ, hàng ngày đi học về cởi trần đi làm thuê, sáng hôm sau áo khô lại mặc đi học. Về việc học, cụ học hành chăm chỉ, thông minh, lại được nho sư Nguyễn Trực dạy bảo nên rất sớm nổi tiếng.
Theo bia: “Đề danh tiến sỹ khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6 (1475) (bia được dựng vào ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám ghi: “Kiều Phú, người Ninh Sơn, phủ Quốc Oai đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân”. Phần chú dẫn ở cuối bia ghi: “Kiều Phú (1447-?), ông hiệu là Ninh Sơn, tự Hiếu Lễ, người xã Lạp Hạ, huyện Ninh Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tham chính”.
Theo gia phả, sau khi thi đỗ, vì mẹ tuổi cao sức yếu, ông ở nhà phụng dưỡng mẹ và để tang mẹ 3 năm. Hết tang, vua Lê Thánh Tông cho sứ giả về tận nhà đón cụ về kinh đô và phong tới chức Tham chính.
Trong thời gian làm Tham chính ở triều đình, Kiều Phú đã hiệu chỉnh và viết bài hậu tự cuốn “Lĩnh Nam chích quái”. Nhà sử hoc Hoa Bằng nhận xét: “Lĩnh Nam chích quái còn có tác dụng bổ sung quốc sử, đặc biệt là đoạn sử thời Hùng Vương. Trong số 22 truyện chính của Lĩnh Nam chích quái có đến 11 truyện liên quan đến thời Hùng Vương. Căn cứ vào bài hậu tự của Kiều Phú ta thấy rằng mục đích của người hiệu đính Lĩnh Nam chích quái là nhằm bổ sung chỗ còn thiếu sót của quốc sử qua những câu chuyện truyền miệng trong dân gian để tìm nguồn gốc của dân tộc”.
Còn trong sách “Giáo dục khoa cử Thăng Long – Hà Nội”, phần khảo cứu về các nhà khoa bảng Thăng Long – Hà Nội thời Lê sơ, trang 274 ghi về Kiều Phú như sau: “Người Lạp Hạ, huyện Ninh Sơn, nay thuộc thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức, đời vua Lê Thánh Tông (1475), làm quan đến chức Tham chính, được về trí sỹ. Ông là đồng tác giả (cùng Vũ Quỳnh) cuốn Lĩnh Nam chích quái, viết về các sự thần ở miền Bắc”.
Khi hiệu chỉnh lại một số nội dung trong cuốn Lĩnh Nam chích quái, Kiều Phú viết: “Kẻ ngu này khảo rộng sách khác, lại góp thêm ý kiến mình mà đính chính lại, biện bạch lại điều sai suyền của người trước, gỡ mối chê cười của người sau, tước bỏ chỗ phiền phức, chọn lấy những nét giản dị bình thường để trong tráp cho tiện khi đem đọc”.
Gần như truyện nào trong Lĩnh Nam chích quái, Kiều Phú cũng có những nhận xét ngắn gọn và chính xác theo quan điểm của ông: “chiến thắng rồi, sao lãng việc cất giấu nỏ thần thì chuyện móng rùa vàng chẳng phải là chuyện chê An Dương Vương lúc yên không nghĩ tới lúc nguy đó sao?
“Trừ hại cho dân thì có các truyện: Ngư tinh, Hồ tinh và Mộc tinh để ghi sự thực.
“Trọn đạo tôi con thì có các truyện bánh chưng, (Thần) Long Nhãn và Bạch Trĩ đều tả tường tận.
“Đổng Thiên Vương và Lý Ông Trọng điều hiển linh vì có công chống giặc cứu nước”.
Kiều Phú sinh và lớn lên ở xứ sở hát Rô. Hội hát Rô 36 năm tổ chức 1 lần ở đền Khánh Xuân – ngay trên quê hương ông. Trong những lời ca của hát Rô, phần nhiều ca ngợi công đức của Tản Viên Sơn Thánh đã có công với triều vua Hùng Vương thứ 18 nói chung và công dạy dân vùng quê hương của ông cấy lúa, trồng dâu, trăn tằm và giáo hóa cho dân chúng ở buổi đầu dựng nước. Kiều Phú viết: “Còn các truyện như thần Tản Viên sơn thì có công trừ họa, chống tai ương, truyện Man Nương thì linh ứng khi dân đảo vũ; truyện Từ Đạo hạnh trả được thù cha; Nguyễn Minh Không chữa cho vua khỏi bệnh; Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải giáng được rồng, phục được hổ, được người đời khen là phép giỏi, thuật cao…”
Kiều Phú cho rằng: “sự việc tuy có khác thường nhưng truyền văn hay còn sự tích, nay biểu dương mà viết ra chẳng xứng đáng lắm sao?”.
Kiều Phú sống và làm việc trải qua hai triều vua: đó là vua Lê Thánh Tông (1460-1497) kể từ khi thi đỗ đến khi vua Lê Thánh Tông mất là 22 năm. Sau đó ông phục vụ cho triều vua Lê Hiến Tông (1498-1504) được 3 năm thì ông mất, thọ 57 tuổi.
Cảm tạ tấm lòng cưu mang của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, khi được nhà vua phong cho chức tước và bổng lộc, ông đã tậu 2 cái đầm cấy lúa và thả cá, đó là đầm Bái và đầm Me để dân làng Văn Khê làm giỗ Thầy (cụ Nguyễn Trực mất năm 1473, hai năm sau Kiều Phú mới đỗ Hoàng Giáp). Từ một hàn nho, sau được vinh hiển, ông đã nhớ người đã rộng lòng cưu mang buổi hàn vi. Sự kiện này người trong dòng họ Kiều và Nhân dân hai làng còn nhớ và họ gọi với tấm lòng thành kính “bát cơm gắp cá trả nghĩa Thầy”. Các nhà nho xưa thì dùng chữ ca ngợi: “chu ma lưu quan hương, lang sư dạo ý diềm thu đàm” ý nghĩa là “chút quà dâng lộc, sách rồng ý đẹp biếc dầm thu).
Vào những năm cuối đời, khi ông 53 tuổi ông được người đời phong là Trạng – cụ Trạng Kiều Phú. Ông mất ở tuổi tài năng còn đang nở rộ, đó là ngày 13 tháng Giêng năm Quý hợi.
Để tưởng nhớ đến công lao của ông, các triều đại xưa kia đều phong sắc hoặc người đời sau có câu đối ca ngợi:
Thẻ gỗ đề văn, khoa bảng tiếng thơm lừng quế biển;
Chút quà dâng lộc, sách rồng ý đẹp biếc đầm thu
Tạm dịch: Bảng vàng khoa giáp, hiện từ rặng núi Tràng An
Bia đá Hồng Đức, Nghe danh mọi người Liệp Hạ.
Thời Nguyễn, vua Khải Định sắc phong “Lệnh Sắc cho thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây phải thờ cúng ông Nhị giáp Tiến sỹ triều Lê chức Ngự sử sung Thái Nguyên trấn ty Đề Hình tên là Kiều Phú, tên chữ là Hiếu Lễ. Ông có công giúp nước giúp dân, làm những việc tốt rõ ràng. Nay nhà vua mừng thọ 40 tuổi, ban bố chiếu chỉ, gia phong Quang ý Dực bảo trung hung, Trung đẳng thần. Chuẩn theo đó mà thờ phụng. Ngài giúp dân được yên lành. Kính trọng lắm thay!”
Tóm lại: Kiều Phú là một danh nhân để lại cho đời nhiều tiếng thơm về sự cần cù, chịu khó đi học. Ông đỗ đại đăng khoa vào loại sớm nhất trong khoa bảng ở Quốc Oai thời Lê sơ. Ngoài sự nghiệp làm quan, ông còn để lại cho đời những áng văn chương uyên bác thấm đượm tinh thần yêu nước, giáo dục người đời về tinh thần dân tộc và niềm tự hào về văn hiến Việt Nam. Ông cũng là người nêu tấm gương mẫu mực sáng chói về tình nghĩa thầy trò và gần 500 năm để mọi thế hệ hậu sinh phải suy ngẫm. Chính vì thế, khi nói tới Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, người đời thường nhắc tới Kiều Phú – những đỉnh cao của trí tuệ và nhân cách mà thân thế có nhiều điểm tương đồng.



