Văn Chỉ Thế Trụ
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Giới thiệu
Văn chỉ Thế Trụ đã được xếp hạng quốc gia tại Quyết định số 65/VH-QĐ ngày 16/01/1995 của Bộ Văn hóa và Thông tin nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Văn chỉ được xây dựng từ sớm nhằm cổ vũ tinh thần hiếu học và khoa bảng của địa phương. Nơi đây là không gian tôn nghiêm, gắn liền với việc thờ tự các bậc hiền triết, khoa bảng danh tiếng, đặc biệt là Trạng nguyên Nguyễn Trực (vị Trạng nguyên đầu tiên của vương triều nhà Lê. Công trình được xây dựng theo cấu trúc hình chữ "Đinh" (丁) gồm tòa Đại bái và Hậu cung. Tòa Đại bái gồm 3 gian, nổi bật với hệ thống giá chiêng, kẻ bẩy mang nét chạm khắc gỗ thủ công tinh xảo.
Toà Hậu cung gồm một gian nối vào phía sau gian giữa nhà Đại bái. Phía trước Hậu cung có một bức cốn lớn chạm hai rồng chầu mặt nguyệt, phía sau cùng đặt hai bài vị, một của Nguyễn Trực, một của tiên hiền. Bài vị được sơn son thếp vàng, phía trên chạm hai rồng chầu mặt nguyệt, hai bên chạm hai chim phượng, dưới bệ chạm hổ phù. Những đề án này biểu tượng đầy quyền quý và trang trọng mà người xưa thường dùng ở nơi đền miếu thâm nghiêm. Văn chỉ được tu sửa nhiều lần vào thời Nguyễn, song vẫn còn một số dấu tích kiến trúc thời Lê như một mảng chạm hình rồng đuôi mập, mang phong cách thế kỷ XVIII, và một bia đá cho biết văn chỉ được dựng vào cuối thời Lê, năm Cảnh Hưng 31 (1770).
Như bức đại tự vừa nêu trên, thì văn chỉ này gần như một ngôi đền thờ Nguyễn Trực. Nguyễn Trực vốn người làng Bối Khê, huyện thanh Oai. Cụ tổ của ông huý là Hữu, sống ở thời Trần giữ chức Hàn lâm thị giảng, ông nội huý là Bính, chức Huân đạo. Bố là Nguyễn Thì Trung. Khi nhà Hồ lấy ngôi nhà Trần, Thì Trung bỏ về ở thôn Tiểu Động Mộng, xã Nghĩa Bang. Khi Thái Tông thu phục được giang sơn, các hào kiệt văn sĩ đều được ba chức tước, riêng Thì Trung không chịu ra nhận. Thái Tông lên ngôi, biết ông là người tài, đã cho chiếu mời về kinh giao cho chức Thư khố ở Quốc Tử Giám, rồi Giáo thụ. Sau đó ông cáo quan về dạy học. Ông lấy vợ người họ Đỗ, quê ở Nghĩa Bang (nay là xã Nghĩa Hương), sinh Nguyễn Trực ngày 16 tháng 5 năm Đinh Dậu (1417) tại am núi Sài Sơn. Từ nhỏ Nguyễn Trực đã rất thông minh, trong các kỳ thi thường đỗ nhất, nhì, ba. Năm 26 tuổi, ông thi Hội (1442), đỗ đệ nhất Tiến sĩ (Trạng nguyên). Ông làm quan dưới triều Lê Nhân Tông (1443-1459), đến chức Hàn lâm viện, Thắng an phủ sứ Nam Sách, rồi Thị giảng, Trung thư thị lang. Năm 1444, ông nhận được lệnh đi sứ ở Trung Quốc, ông dự thi, cũng lại đỗ đầu trong số thí sinh nhà Minh. Vì vậy, ông được gọi là Lưỡng quốc trạng nguyên. Năm 1452, nhân có đại tang, ông xin về quê làm thuốc, dạy học. Học trò của ông rất đông và rất nhiều người thành đạt như Hoàng giáp Kiều Phú. Mãn tang, ông lại được vời vào Kinh để tiếp sứ giả nhà Minh. Dưới đời vua Lê Thánh Tông, ông vẫn được trọng dụng. Ngày 28 tháng 12 năm 1473, ông lâm bệnh qua đời ở tuổi 57 trong lúc tài năng đang rực rỡ.
Nguyễn Trực không chỉ là bậc tiên hiền của làng Thế Trụ mà còn là một trong những tiên hiền của đất nước. Vì vậy, văn chỉ thờ ông, từng được triều đình liệt vào “quốc lễ” (nghi thức lễ quốc gia). Văn chỉ này là niềm tự hào của dân làng Thế Trụ và cũng là một danh thắng của đất nước.



